|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2023/HS-ST Ngày 21 tháng 8 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tuấn và ông Nguyễn Ngọc Bờ
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Kiên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 24/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1974, tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp Hoà L, xã Châu P, thị xã Tân C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn X và bà Lê Thị Bé N; chồng là Salaman (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 30-8-2004, bị Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc (nay là thành phố Châu Đốc) xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 13-6-2014; Ngày 21-4-2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 26-8-2016; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/5/2023 cho đến nay (có mặt).
Bị hại: Ông Lê Thanh T (Tên gọi khác P), sinh năm 1983, nơi cư trú: Tổ 6, ấp Hưng T, xã Đào Hữu C, huyện Châu P, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông M, sinh năm 1994, nơi cư trú: Tổ 2, ấp Châu G, xã Châu P, thị xã Tân C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Lâm Hải Đ, sinh năm 1972, nơi cư trú: ấp Vĩnh T, xã Châu P, thị xã Tân C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Bà Sóc Thị Diễm T, sinh năm 2003, nơi cư trú: ấp Hoà L, xã Châu P, thị xã Tân C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 06 tháng 3 năm 2023, Nguyễn Thị Kim P cùng Sóc Thị Diễm T (cháu của P) đẩy xe tự chế từ nhà đến khu vực ấp Hưng T, xã Đào Hữu C, huyện Châu P để mua phế liệu và nhặt ve chai. Tại đây, T đẩy xe đi dọc theo tuyến tỉnh lộ 945 cũ, còn P đi bộ cặp kênh 15 thuộc xã Đào Hữu C, huyện Châu P để hỏi mua phế liệu và nhặt ve chai, khi đến nhà của Lê Thanh T quan sát thấy không người trông coi, P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, P đi vào bên trong nhà lấy trộm 01 Laptop, 01 Ipad rồi đón xe honda đầu trở về nhà. P mang Laptop bán cho Lâm Hải Đ được 500.000 đồng, bán Ipad cho Mohamad A được 1.200.000 đồng. Số tiền có được P tiêu xài cá nhân hết. Riêng T khi phát hiện bị mất trộm đã đến Công an xã Đào Hữu Cảnh trình báo sự việc. Ngày 08-5-2023, P bị khởi tố điều tra.
Tại Bản kết luận định giá số 16/KL-HĐĐGTS ngày 10-4-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Phú kết luận: 01 Laptop hiệu Lenove màu đen, đã qua sử dụng trị giá 5.500.000 đồng; 01 Ipad Air2 màu gold, đã qua sử dụng trị giá 3.800.000 đồng; Tổng trị giá tài sản là 9.300.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSCP-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Thị Kim P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị Kim P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Bị hại có mặt tại phiên tòa đề ghị xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định pháp luật, không yêu cầu bị cáo bồi thường 01 Laptop hiệu Lenove màu đen trị giá 5.500.000 đồng, ngoài ra không có ý kiến, yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên (từ bút lục 137- 157).
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ đồ thun lửng, màu đen-trắng-xanh, kiểu hoa vân, 01 cái áo khoác thun tay dài, màu trắng đen, 01 cái nón bo màu đen, 01 cái nón lá; Lưu hồ sơ vụ án 01 phong bì màu trắng được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ: 184/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 12/6/2023 có đóng dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Phước T, Cao Thế A; Tiếp tục tạm giữ số tiền Việt Nam 2.400.000 đồng Công an huyện Châu Phú chuyển vào tài khoản 3949.0.1054727.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú theo Uỷ nhiệm chi ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại Kho bạc Nhà nước Châu Phú để đảm bảo thi hành án. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường 01 Laptop hiệu Lenove màu đen trị giá 5.500.000 đồng nên không xem xét giải quyết. Buộc bị cáo bồi thường cho ông M số tiền 1.200.000 đồng. Hoàn trả cho bị cáo số tiền 700.000 đồng, ông Đ số tiền 500.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Kim P đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 06/3/2023, tại khu vực ấp Hưng T, xã Đào Hữu C, huyện Châu P, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Thị Kim P đã có hành vi lấy trộm tài sản gồm 01 Laptop hiệu Lenove màu đen và 01 Ipad Air2 màu gold của ông Lê Thanh T mang trở về nhà rồi bán Laptop cho ông Lâm Hải Đ được 500.000 đồng, bán Ipad cho ông M được 1.200.000 đồng, đến ngày 08-5-2023 bị cáo P bị khởi tố điều tra.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Kim P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Nguyễn Thị Kim P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc (nay là thành phố Châu Đốc) và Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tính đến ngày phạm tội mới mặc dù không còn tiền án nêu trên, nhưng cũng chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải đê hoàn lương.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã nộp tiền bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là thành phần lao động nghèo, khó khăn, trình độ học vấn thấp nên có nhận thức pháp luật hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hiện tại trên địa bàn huyện Châu Phú các tội phạm về trộm cắp tài sản có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện điều kiện hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Đối với bà Sóc Thị Diễm T, ông M, ông Lâm Hải Đ không biết bị cáo P trộm cắp tài sản và không biết tài sản do bị cáo P bán là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
[6] Về vật chứng: Đối với 01 bộ đồ thun lửng, màu đen-trắng-xanh, kiểu hoa vân, 01 cái áo khoác thun tay dài, màu trắng đen, 01 cái nón bo màu đen, 01 cái nón lá là tài sản của bị cáo P không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy. Lưu hồ sơ vụ án 01 phong bì màu trắng được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ: 184/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 12/6/2023 có đóng dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Phước T, Cao Thế A. Tiếp tục tạm giữ số tiền Việt Nam 2.400.000 đồng Công an huyện Châu Phú chuyển vào tài khoản 3949.0.1054727.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú theo Uỷ nhiệm chi ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại Kho bạc Nhà nước Châu Phú để đảm bảo thi hành án. Đối với 01 Ipad Air2 màu gold, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông T (là chủ sở hữu tài sản) nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.
[7]. Trách nhiệm dân sự:
Ông T không yêu cầu bị cáo P bồi thường 01 Laptop hiệu Lenove màu đen trị giá 5.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Ông M yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền 1.200.000 đồng, bị cáo P cũng đồng ý bồi thường, Hội đồng xét xử buộc bị cáo P bồi thường cho ông M số tiền 1.200.000 đồng.
Ông Đ yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền 500.000 đồng. Ông Đ đã giao nộp số tiền 700.000 đồng, đây là số tiền bán 01 Laptop hiệu Lenove màu đen. Hội đồng xét xử xét thấy không buộc bị cáo P bồi thường cho ông Đ số tiền 500.000 đồng mà hoàn trả lại cho ông Đ 500.000 đồng từ số tiền 700.000 đồng mà ông Đ đã giao nộp cũng đảm bảo quyền lợi cho ông Đ. Còn lại 200.000 đồng thuộc về bị cáo, cộng với số tiền bị cáo giao nộp 1.700.000 đồng, bị cáo bồi thường cho ông M số tiền 1.200.000 đồng, do đó Hội đồng xét xử xét hoàn trả lại cho bị cáo 700.000 đồng.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim P 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án; Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Thị Kim P.
Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bộ đồ thun lửng, màu đen-trắng-xanh, kiểu hoa vân, 01 (Một) cái áo khoác thun tay dài, màu trắng-đen, 01 (Một) cái nón bo màu đen, 01 (Một) cái nón lá; Lưu hồ sơ vụ án 01 (Một) phong bì màu trắng được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ: 184/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 12/6/2023 có đóng dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Phước T, Cao Thế A; Tiếp tục tạm giữ số tiền Việt Nam 2.400.000 đồng (Hai triệu, bốn trăm nghìn đồng) Công an huyện Châu Phú chuyển vào tài khoản 3949.0.1054727.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú theo Uỷ nhiệm chi ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại Kho bạc Nhà nước Châu Phú để đảm bảo thi hành án. (Đặc điểm tang vật như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19-7-2023 giữa Công an huyện Châu Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 357, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim P bồi thường cho ông M số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu, hai trăm nghìn đồng); Hoàn trả lại cho ông Lâm Hải Đ số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); Hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Kim P số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Ngọc Dũng |
Bản án số 24/2023/HS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 24/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim P bị Toà án xét xử về tội trộm cắp tài sản
