|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày: 29 - 11 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Phúc |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Hồng Thủy |
| Bà Nguyễn Thị Huế |
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tỏ – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Giang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Tuấn K, sinh ngày 18/6/1993; tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: khu phố 5, phường K, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N (chết) và bà Nguyễn Thị Ch (chết); tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 013562/QĐ-XPVPHC, ngày 17/6/2008 của Công an thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, cảnh cáo về hành vi đánh nhau, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 005848/QĐ-XPVPHC, ngày 06/7/2009 Công an thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, phạt tiền 60.000 đồng về hành vi “gây rối trật tự công cộng”, Bản án số 64/2013/HSST ngày 21/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
2. Đinh Gia H, sinh ngày 18/10/2006, tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: thôn S, xã Ph, huyện Th, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Nhân S, sinh năm 1985 và bà Nguyễn Thị Ái Kh, sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện Th, tỉnh Ninh Thuận; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Dương Thị H - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lâm Đồng, bào chữa cho bị cáo Đinh Gia H; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1993; Nơi cư trú: thôn H, thị trấn Nh, huyện Ch, tỉnh Gia Lai (tạm trú: số 70, phường 7, thành phố Đ tỉnh Lâm Đồng); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Ái Kh, sinh năm 1996 và ông Đinh Nhân S, sinh năm 1985; Nơi cư trú: thôn S, xã Ph, huyện Th, tỉnh Ninh Thuận; Văng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Tuấn K, Đinh Gia H là thợ sơn nước cho công trình nhà ở tại TDP Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng do ông Nguyễn Thanh S nhận thi công. Khoảng 18 giờ, ngày 07/01/2024, do không đòi được tiền công từ ông S nên Phạm Tuấn K đã lấy 01 chiếc dao (loại dao Thái Lan) và 01 chiếc nĩa (loại nĩa ăn) cất vào trong tay áo rồi nói Đinh Gia H dùng xe máy của H chở K từ phòng trọ tại phường 9, tp. Đ đi vào TDP Đ, thị trấn L tìm ông S để đòi tiền công. H nghe K nói đi gặp ông S để đòi tiền công nên đã đồng ý chở K đi, H không biết K có mang theo hung khí, không biết K có ý định đánh ông S. Khi đến công trình tại TDP Đ, K đi vào gặp ông S và đòi tiền công nhưng ông S không trả dẫn đến tranh cãi. K cầm 01 chiếc dao trong tay phải, 01 chiếc nĩa trong tay trái, thấy vậy, ông S nhặt 01 tấm gỗ chắn ngang trước ngực ông S, K cầm dao xông tới thì bị S dùng tấm gỗ đẩy vào người K, K cầm dao bằng tay phải đâm ngang 01 nhát trúng bụng bên trái của ông S, K tiếp tục cầm 01 chiếc nĩa trong tay trái đâm ngang nhưng ông S dùng tay trái đỡ nên bị chiếc nĩa đâm trúng bàn tay trái của ông S. H đứng ngoài đường thấy K và ông S xô xát nên đã nhặt 01 cục gạch (loại gạch đất nung 04 lỗ) xông vào từ phía sau ông S, tay phải H cầm gạch đánh 02 nhát vào đầu của ông S. Thấy vậy, K nói H dừng lại, H vứt cục gạch lại hiện trường rồi K lái xe máy cùng nhau đi về thành phố Đ. Khi đi đến chợ thị trấn L, K đã vứt 01 chiếc dao và 01 chiếc nĩa đã dùng để gây thương tích cho ông S vào bãi đất ven đường.
Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 22/01/2024, kết quả xác định hiện trường ngày 24/01/2024 và ngày 29/03/2024 tại TDP Đ, thị trấn L, huyện L đã xác định vị trí các bị cáo dùng hung khí gây thương tích cho ông Nguyễn Thanh S là khu vực sân trước nhà ông Hồ Văn H; Kết quả thực nghiệm điều tra ngày 24/7/2024 đã xác định diễn biến, quá trình các bị cáo dùng hung khí gây thương tích cho ông Nguyễn Thanh S. Giấy chứng nhận thương tích số 98/CN ngày 22/01/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng xác định: Nguyễn Thanh S nhập viện lúc 18:53:52, ngày 07/01/2024; tình trạng lúc vào viện: có nhiều vết thương đầu, bụng, tay, cụ thể: một vết thương hông trái #5cm, bờ sắc gọn, thấu bụng; ba vết thương đầu, mỗi vết thương dài # 1 – 3cm, đã khâu; một vết thương thái dương trái # 1cm đã khâu; hai vết thương bàn tay trái: một vết thương ngón V trái #2cm, một vết thương lòng bàn tay trái dưới ngón V trái # 1cm.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 59/KLTTCT-PYLÐ ngày 30/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Nguyễn Thanh S, tại thời điểm giám định là: Sẹo đỉnh đầu là 01% (một phần trăm), Sẹo đỉnh đầu là 03% (ba phần trăm), Sẹo đỉnh đầu là 01% (một phần trăm), Sẹo bàn tay trái là 01% (một phần trăm), Sẹo bàn tay trái là 01% (một phần trăm), Sẹo hông trái gây thấu lưng là 01% (một phần trăm), Sẹo mổ là 03% (ba phần trăm), Rách phúc mạc, mạc treo, thanh mạc là 14% (mười bốn phần trăm), Lỗ dẫn lưu là 01% (một phần trăm); Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thanh S, tại thời điểm giám định là 24% (hai mươi bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư; Tổn thương do vật sắc nhọn gây nên.”
Bản vẽ mô tả hung khí các bị cáo sử dụng để đánh, đâm ông Nguyễn Thanh S do các bị cáo tự vẽ, mô tả xác định Phạm Tuấn K đã dùng 01 dao cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại có mũi dao nhọn, chiều dài tổng thể khoảng 12cm; 01 chiếc nĩa bằng kim loại, một đầu có 03 chĩa nhọn, phần cán nĩa nhọn, chiều dài tổng thể khoảng 15cm; 01 cục gạch (loại gạch đất nung có 04 lỗ), kích thước khoảng 17cm x 7cm x 2cm. Hung khí các bị cáo vẽ, mô tả phù hợp với các chứng cứ khác. Sau khi gây thương tích cho ông S, H đã vứt 01 cục gạch lại hiện trường, K đã vứt 01 chiếc dao và 01 chiếc nĩa này vào bãi đất trên đường đi về Đ. Cơ quan điều tra đã xác minh, truy tìm nhưng không thu giữ được. Đối với chiếc xe máy các bị cáo đã sử dụng để di chuyển đến địa điểm thực hiện hành vi phạm tội và sử dụng để tẩu thoát sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã bán cho người không rõ lai lịch nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, thu giữ.
Bản cáo trạng số 22/CT-VKSLD ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Phạm Tuấn K và Đinh Gia H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố; các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng, và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; các bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu đồng) theo yêu cầu của bị hại (bị cáo K đồng ý bồi thường số tiền 65.000.000 đồng, bị cáo H bồi thường số tiền 5.000.000 đồng).
Bị hại trình bày: Tại phiên tòa hôm nay anh yêu cầu các bị cáo bồi thường cho anh số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu đồng); anh không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng, và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Tuấn K và Đinh Gia H về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng số 22/CT-VKSLD ngày 22/10/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Tuấn K từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù; Áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 101; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Gia H từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng; Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 587 và Điều 590 Bộ luật dân sự buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu đồng) theo phần bị cáo K bồi thường 65.000.000 (sáu mươi lăm triệu đồng), bị cáo H bồi thường 5.000.000 (năm triệu đồng).
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo H về hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo bố bị cáo thường xuyên đi biển 06 tháng, mẹ bị cáo bỏ nhà đi vì nợ, hiện bị cáo đang ở cùng và chăm sóc 02 người em; bị cáo lúc phạm tội là người đưới 18 tuổi nhận thức pháp luật còn hạnh chế; thật thà khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường cho người bị hại số tiền 3.000.000 (ba triệu đồng), gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo; do vậy đề nghị áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 90 và Điều 91 Bội luật hình sự và xử phạt bị cáo với mức án 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo.
Bị cáo; bị hại không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của các bị cáo: các bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tính hợp pháp của chứng cứ, tài liệu và các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các chứng cứ, tài liệu được thu thập và cung cấp theo đúng quy định của pháp luật.
[2]. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cha mẹ của bị cáo H, đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; Xét thấy trong quá trình điều tra do bị cáo lúc phạm tội chưa đủ 18 tổi nên các cơ quan tiến hành tố tụng xác định và đưa tham tư cách người đại diện hợp pháp của bị cáo; Tuy nhiên tại giai đoạn xét xử bị cáo đã đủ 18 tuổi, nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án; Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Tại phiên tòa hôm nay căn cứ vào kết luận giám định số 59/KLTTCT-PYLÐ ngày 30/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Nguyễn Thanh S, tại thời điểm giám định là 24% (hai mươi bốn phần trăm), tổn thương do vật sắc nhọn gây nên”; cũng như lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Phạm Tuấn K và Đinh Gia H đã có đầy đủ các yếu tố cấu thành của tội “Cố ý gây thương” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 22/CT-VKSLD ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Phạm Tuấn K và Đinh Gia H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo K đã bồi thường số tiền 2.000.000 (hai triệu đồng), bị cáo H đã bồi thường số tiền 3.000.000 (ba triệu đồng); do vậy cũng cần áp dụng cho bị cáo K tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo H tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về quyết định hình phạt:
Đối với bị cáo Phạm Tuấn K chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm đánh anh Nguyễn Thanh S dẫn đến tổng thương tích 24%. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những gây thiệt hại đến sức khỏe của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự xã hội tại địa phương, đồng thời bị cáo là người có nhân thân xấu và đã từng bị xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời mang tính phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Đinh Gia H khi thấy bị cáo K đánh bị hại, bị cáo đã tham gia cùng bị cáo K gây thương tích cho bị hại; Tuy nhiên lúc phạm tội bị cáo còn chưa đủ 18 tuổi, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Qua xem xét mức đề nghị hình phạt từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng của Đại diện viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp với tình chất, hành vi của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho người bị hại số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu đồng), theo phần bị cáo K bồi thường 65.000.000 (sáu mươi lăm triệu đồng), bị cáo H bồi thường 5.000.000 (năm triệu đồng).
[7]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Sau khi gây thương tích cho bị hại, bị cáo H đã vứt 01 cục gạch lại hiện trường, bị cáo K đã vứt 01 chiếc dao và 01 chiếc nĩa này vào bãi đất trên đường đi về thành phố Đ; Cơ quan điều tra đã xác minh, truy tìm nhưng không thu giữ được; đối với số tiền 5.000.000 (năm triệu đồng) các bị cáo bồi thường cho bị hại đã được nộp tại Chi cục thi hành án được khấu trừ vào số tiền các bị cáo phải bồi thường cho người bị hại.
[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo H do thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí. Bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn K và Đinh Gia H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1.1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn K 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2024.
1.2. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Gia H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 29/11/2024).
Giao các bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Ph, huyện Th, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, vắng mặt tại nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự (Đã giải thích chế định án treo).
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 587 và Điều 590 Bộ luật dân sự.
Buộc các bị cáo Phạm Tuấn K và Đinh Gia H bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh S số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu đồng) theo phần:
Bị cáo Phạm Tuần K bồi thường 65.000.000 (sáu mươi lăm triệu đồng), được trừ số tiền 2.000.000 (hai triệu đồng), tại biện lai số 0000464, ngày 04/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương; bị cáo còn tiếp tục bồi thường số tiền 63.000.000 (sáu mươi ba triệu đồng).
Bị cáo Đinh Gia H bồi thường số tiền 5.000.000 (năm triệu đồng), được trừ số tiền 3.000.000 (ba triệu đồng), tại biện lai số 0000464, ngày 04/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương; bị cáo còn tiếp tục bồi thường số tiền 2.000.000 (hai triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Tuấn K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.250.000 (ba triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo Đinh Gia H.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Phúc |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Tuấn Kiệt phạm tội "Cố ý gây thương tích"
