Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠC DƯƠNG

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày: 12 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Văn Nhuận

Ông Đinh Quang Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tỏ – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Q; Sinh ngày 07 tháng 8 năm 1978; tại Thái Bình; Nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện nay: hẻm B C đường H, phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1937 và bà Phan Thị H (đã chết); có vợ là Phạm Thị N, sinh năm 1980 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2024, đến ngày 27/4/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

2. Tạ Văn T; Sinh ngày 23 tháng 10 năm 1978; tại Hà Nội; Nơi cư trú: số B T, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn Đ1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); có vợ là Vũ Bích N1, sinh năm 1980 và 03 con; tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

3. Phạm Văn T1 (Bồng); Sinh ngày 03 tháng 3 năm 1991; tại Thái Bình; Nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện nay: hẻm E N, phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T2, sinh năm 1950 và bà Phí Thị C, sinh năm 1951; có vợ là Vi Thị H1, sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

- Bị hại: bà Trần Thị L, sinh năm 1971 và ông Hoàng Văn H2, sinh năm 1964; Nơi cư trú: tổ dân phố H, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Hẻm B C đường H, phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng:

  1. Anh Hoàng Văn H3; Nơi cư trú: tổ dân phố H, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
  2. Anh Trần Văn C1; Nơi cư trú: số C H, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
  3. Anh Hoàng Công H4; Nơi cư trú: Công an xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
  4. Anh Dương Ngọc H5; Nơi cư trú: H H, phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
  5. Anh Đoàn Ngọc T3; Nơi cư trú: G L, phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/7/2021, Phan Thị Kim L1 đã dùng thủ đoạn gian dối để lừa bà Trần Thị L ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất các thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số T 390373, và GCNQSDĐ số T 390374 (cùng ngày 19/9/2001) cho bà Trần Vi Ngọc P, hợp đồng đã được Văn phòng C2 công chứng số 1554, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD; ngày 18/8/2021, bà P được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L cấp GCNQSDĐ số DD 902815 đối với các thửa đất này.

Ngày 03/11/2021, bà P chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất theo GCNQSDĐ số DD 902815 cho bà Phạm Thị N và bà Đào Thị Thu T4 (đồng sử dụng), hợp đồng chuyển nhượng đã được Văn phòng công chứng Nguyễn Lan A công chứng số 10069, quyển số 04/2021 TP/CC-SCC/HĐGD; Bà N và bà T4 đã làm thủ tục sang tên và được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất đã nhận chuyển nhượng từ bà P. Sau khi được cấp GCNQSDĐ, bà N cùng chồng là ông Nguyễn Văn Q đi vào vị trí đất này tại khu vực tiểu khu A, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì thấy gia đình bà Trần Thị L đang canh tác, trồng cây nông nghiệp trên toàn bộ diện tích đất này; Vợ chồng bà L nói cho vợ chồng bà N biết việc bà L bị Phan Thị Kim L1 lừa nên đã ký hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất này cho người khác, ông Hoàng Văn H2 (chồng bà L) cũng nói cho vợ chồng bà N biết vụ việc này của gia đình ông H2 hiện đang được Công an tỉnh L giải quyết; Vợ chồng bà N nghe vậy nhưng vẫn nhiều lần yêu cầu gia đình ông H2 bàn giao đất cho vợ chồng Q vì vợ chồng Q cho rằng diện tích đất này vợ chồng Q đã được nhận chuyển nhượng và cấp GCNQSDĐ hợp pháp. Phía gia đình ông H2 không đồng ý. Sau nhiều lần thoả thuận với gia đình ông H2 không thành, ngày 12/12/2021, vợ chồng Nguyễn Văn Q cùng với bà Đào Thị Thu T4, ông Đoàn Ngọc T3 (chồng của bà T4) và Tạ Văn T (bạn của Q) mang theo dao rựa vào khu đất gia đình ông H2 đang canh tác tại tiểu khu A, xã Đ để phát cây, dọn đất; Khi nhóm người phía Q đang phát dọn cỏ trên diện tích đất này, ông H2 và Hoàng Văn H3 (con ruột ông H2) đến ngăn cản, H3 dùng điện thoại di động quay phim, chụp hình sự việc; Thấy vậy nên Đoàn Ngọc T3 đã gọi điện thoại báo Công an xã Đ; Khi ông Hoàng Công H4 là cán bộ Công an xã Đ đến hiện trường, ông H4 làm việc với nhóm của Q và gia đình ông H2 thì được ông H2 cung cấp thông tin về việc diện tích đất này đang có tranh chấp do gia đình ông H2 bị lừa, vụ việc hiện đang được cơ quan chức năng giải quyết; Sau đó, ông H4 thông báo với nhóm người phía Quyên nội dung này và yêu cầu phía Quyên giải tán, chờ kết quả giải quyết của cơ quan chức năng. Ngày 14/12/2021, Q chuẩn bị 01 dao rựa phát, rủ Tạ Văn T, Phạm Văn T1 và người tên Đ2 đi cùng vợ chồng Q vào khu đất tại xã Đ (khu đất đang có tranh chấp với gia đình ông H2), Q nói với T, T1 và Đ2 đi vào dọn dẹp đất cho Q; Sau đó, Q đi cùng N, T, T1 và Đ2 đi vào khu đất; Khi vào đến khu đất, gia đình ông H2 vẫn cương quyết không bàn giao đất cho Q nên Q đã gọi điện thoại cho người tên T3 (chưa xác định được nhân thân), T3 đến và nói chuyện với anh H3 (con ruột ông H2) thì anh H3 nói với T3 việc đất này đang có tranh chấp và đợi kết quả giải quyết của cơ quan chức năng; T3 nói với Q nội dung nếu đất của mình (tức của vợ chồng Q) thì mình cứ làm, sau đó T3 đi về. Q chỉ đạo T, T1 dùng dao rựa phát chặt phá các cây Atiso có trên diện tích đất này nhằm mục đích gây áp lục để buộc gia đình ông H2 phải giao đất cho Q. Gia đình ông H2 thấy nhóm Q đông người nên không dám ngăn cản, đồng thời đến Công an xã Đ để trình báo sự việc. Khi Công an xã Đ đến hiện trường thì nhóm của Q đã rời đi. Ngày 16/12/2021, vợ chồng Q cùng với Tạ Văn T, ông Đoàn Ngọc T3 tiếp tục đi vào khu đất tại xã Đ. Tại đây, Q và T sử dụng dao rựa phát tiếp tục chặt phá các cây Atiso có trên diện tích đất này nhằm mục đích gây áp lực để buộc gia đình ông H2 phải giao đất cho Q. Gia đình ông H2 tiếp tục trình báo sự việc đến Công an xã Đ. Khi Công an xã Đ đến hiện trường thì nhóm của Q đã rời đi.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 14/12/2021 tại khu đất thuộc tiểu khu A, xã Đ, huyện L đã xác định có 975 cây Atiso bị chặt ngang gốc còn tại hiện trường. Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 16/12/2021 tại khu đất thuộc tiểu khu A, xã Đ, huyện L đã xác định có 1230 cây Atiso bị chặt ngang gốc còn tại hiện trường.

Kết luận định giá số 18/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 29/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện L đã kết luận giá trị của 975 cây Atiso tại thời điểm ngày 14/12/2021 là 48.750.000 đồng; giá trị của 1.230 cây Atiso tại thời điểm ngày 16/12/2021 là 65.436.000 đồng. Tổng giá trị của 2.205 cây A1 là 114.186.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 19/CT-VKSLD ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Q và Tạ Văn T về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự; truy tố Phạm Văn T1 về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Đối với Phạm Thị Kim L2: Hành vi của L2 và các đồng phạm đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L khởi tố, điều tra về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Cáo trạng truy tố Phạm Thị Kim L2. Đối với bà Trần Vi Ngọc P: bà P không biết việc bà Trần Thị L bị Phạm Thị Kim L2 lừa dối nên đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà L; Quá trình Nguyễn Văn Q thực hiện hành vi “Huỷ hoại tài sản”, bà P không biết và cũng không liên quan đến sự việc này; Do đó, không xem xét trách nhiệm đối với bà Trần Vi Ngọc P1 trong vụ án “Huỷ hoại tài sản” này. Đối với bà Phạm Thị N: Quá trình Q rủ T, T1 chặt phá các cây Atiso của gia đình ông H2, Q không bàn bạc hay cho bà N biết; bà N cũng không tham gia giúp sức cho Q trong quá trình Q cùng với T1, T chặt phá các cây Atiso; Do đó, bà Phạm Thị N không đồng phạm với Nguyễn Văn Q. Đối với bà Đào Thị Thu T4 và ông Đoàn Ngọc T3: Quyên không bàn bạc với bà T4, ông T3 việc Q thuê người khác cùng với Q chặt phá cây A1; ông Đoàn Ngọc T3 cũng không có hành vi giúp sức cho các bị can trong quá trình các bị can thực hiện hành vi phạm tội; Do đó, bà Đào Thị Thu T4 và ông Đoàn Ngọc T3 không đồng phạm với Nguyễn Văn Q. Đối với T3 “Hà Nội” và Đ2: T3 “Hà Nội” không có hành vi chặt phá cây A1 hay hành vi khác giúp sức cho các bị can trong việc chặt phá cây Atiso; Do đó, hành vi của T3 và Đ2 không đồng phạm với Nguyễn Văn Q.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như đã khai báo ở Cơ quan điều tra cũng như nội dung bản cáo trạng truy tố và lời trình bày tại phiên tòa hôm nay như nội dung vụ án được tóm tắt ở trên; Các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng, và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Người bị hại trình bày: Sau khi sự việc xảy ra gia đình đã được các bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại với số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu đồng) ông bà nhận trực tiếp và 114.000.000 (một trăm mười bốn triệu đồng) các bị cáo đã nộp để bồi thường thiệt hại tại biên lai thu tiền của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương, tổng số tiền các bị cáo đã bồi thường là 314.000.000 (ba trăm mười bốn triệu đồng); gia đình đã viết đơn bãi nại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt tù giam đối với các bị cáo và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm; đồng thời không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Tạ Văn T và Phạm Văn T1 về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng số 19/CT-VKSLD ngày 06/8/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 178; Điều 35; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 40.000.000 (bốn mươi triệu đồng) đến 50.000.000 (năm mươi triệu đồng); Xử phạt bị cáo Tạ Văn T từ 30.000.000 (ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000 (bốn mươi triệu đồng). Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 35; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 từ 15.000.000 (mươi lăm triệu đồng) đến 20.000.000 (hai mươi triệu đồng). Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: đề nghị trả cho ông H2, bà L số tiền 114.000.000 (một trăm mười bốn triệu đồng) các bị cáo đã nộp để bồi thường thiệt hại tại biên lai thu tiền của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương; Trả cho bị cáo Q 01 (một) điện thoại do động nhãn hiệu Iphone 12, bên trong có gắn thẻ sim; Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại tại biên bản giao nhận vật chứng do không còn gái trị sử dụng. Về trách nhiệm dân sự do không có yêu cầu nên không đề cập xem xét giải quyết.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của các bị cáo đều có ý kiến về việc đã nhận thấy việc làm của các bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2]. Đối với người làm chứng đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; Xét thấy trong quá trình điều tra đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án; Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Xét thấy xuất phát từ việc vợ bị cáo Q nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại tiểu khu A, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sau khi nhận chuyển nhượng xong vợ, chồng bị cáo Q có thỏa thuận với ông H2, bà L về việc giao đất nhưng được thông báo đất đang có tranh chấp; do không thỏa thuận được nên ngày 14/12/2021 Nguyễn Văn Q đã cùng Tạ Văn T, Phạm Văn T1 dùng 02 dao rựa phát chặt phá 975 cây Atiso thuộc sở hữu của gia đình ông Hoàng Văn H2; đến ngày 16/12/2021, tại cùng vị trí, Nguyễn Văn Q, Tạ Văn T tiếp tục dùng 02 dao rựa phát chặt phá 1.230 cây Atiso; Kết luận định giá số 18/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 29/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện L đã kết luận giá trị của 975 cây Atiso tại thời điểm ngày 14/12/2021 là 48.750.000 đồng; giá trị của 1.230 cây Atiso tại thời điểm ngày 16/12/2021 là 65.436.000 đồng. Tổng giá trị của 2.205 cây A1 là 114.186.000 đồng. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của những người tham gia tố tụng khác; do vậy Cáo trạng số 19/CT-VKSLD ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q và Tạ Văn T về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Phạm Văn T1 về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự, là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Văn Q và Tạ Văn T có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại; đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và đề nghị không áp dụng hình phạt tù giam đối với các bị cáo; bị cáo Nguyễn Văn Q có bố vợ là thương bệnh binh bị nhiễm chất độc hóa học và được tặng thưởng huân chương chiến sỹ giải phóng hạng ba; bị cáo Tạ Văn T có ông ngoại là cán bộ cách mạng trước năm 1945, được tặng thưởng bảng vàng danh dự, huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhì, huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, huân chương chiến thắng hạng hai; bị cáo Phạm Văn T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy cũng cần áp dụng cho bị cáo Nguyễn Văn Q và Tạ Văn T tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Phạm Văn T1 áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6]. Về quyết định hình phạt: Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương; Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy sự việc xuất phát từ việc tranh chấp đất đai đang được giải quyết, cũng như sự thiếu hiểu biết của bị cáo Q cho rằng tài sản là cây trồng trên đất đã được vợ bị cáo nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ người khác là thuộc tài sản của gia đình bị cáo và có quyền thực hiện hành vi chặt, phá cây của người khác hiện đang quản lý sử dụng, các bị cáo T, T1 chỉ được bị cáo Q rủ đi phát dọn vườn hộ bị cáo Q; đồng thời các bị cáo là người có nhân thân tốt; tổng giá trị thiệt hại tài sản của gia đình bị hại là 114.186.000 (một trăm mươi bốn triệu một trăm tám mươi sáu ngàn đồng), các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 314.000.000 (ba trăm mười bốn triệu đồng); các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự và đề nghị mức hình phạt tiền đối với các bị cáo của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo và đề nghị của người bị hại; đồng thời cũng không ảnh hưởng tới công tác đấu tranh phòng chống tội phạm chung, và thể hiện tính khoan hồng của Nhà nước đối với các bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra các bị cáo đã bồi thường cho người bị hại số tiền 314.000.000 (ba trăm mười bốn triệu đồng) gồm 200.000.000 (hai trăm triệu đồng) nhận trực tiếp và 114.000.000 (một trăm mười bốn triệu đồng) đã nộp để bồi thường tại biên lai thu tiền của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương; người bị hại đã viết đơn bãi nại và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Trả cho ông H2, bà L số tiền 114.000.000 (một trăm mười bốn triệu đồng) các bị cáo đã nộp để bồi thường thiệt hại tại biên lai thu tiền của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương.

Trả cho bị cáo Q 01 (một) điện thoại do động nhãn hiệu Iphone 12, bên trong có gắn thẻ sim.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại tại biên bản giao nhận vật chứng do không còn giái trị sử dụng.

[9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Tạ Văn T, Phạm Văn T1 phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
    1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 178; Điều 35; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu đồng).
    2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 178; Điều 35; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tạ Văn T 30.000.000 (ba mươi triệu đồng).
    3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; Điều 35; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 15.000.000 (mười lăm triệu đồng).
  2. Các biên pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Trả cho bà Trần Thị L và ông Hoàng Văn H2 số tiền 114.000.000 (một trăm mười bốn triệu đồng) tại biên lai thu tiền số 0000420, ngày 23/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương.

    Trả cho bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) điện thoại do động nhãn hiệu Iphone 12, bên trong có gắn thẻ sim.

    Tịch thu tiêu hủy: 02 rựa phát cùng kích thước dài 117cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 32cm, cán gỗ dài 85cm.

    (Vật chứng được giao nhận theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/8/2024).

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q, Tạ Văn T, Phạm Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Lạc Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Lạc Dương;
  • - Công an huyện Lạc Dương;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Phúc

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Văn Nhuận – Đinh Quang Trung

Nguyễn Văn Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm (hủy hoại tài sản)

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Hủy hoại tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q phạm tội "Hủy hoại tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger