|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 170/2024/HS-ST Ngày: 06-12-2024. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ và bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Ka Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 166/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn S, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 01/01/1975, tại tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn N, sinh năm 1935 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1937 (đã chết); có vợ: Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1979 (đã ly hôn); con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 30/7/2024 cho đến nay. Có mặt.
+ Bị hại: Ông Lê Ngọc H, sinh năm 1973, trú tại: số E đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị H1, sinh năm 1979; số E đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Lê Ngọc H, sinh năm 1973, trú tại: số E đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và Nguyễn Văn S có mối quan hệ quen biết và giao dịch làm ăn với nhau thông qua việc mua bán xe ô tô. Việc mua bán xe diễn ra theo hình thức khi có xe thì S gửi hình ảnh xe cho ông H, nếu ông H đồng ý mua thì sẽ thỏa thuận giá và chuyển tiền vào tài khoản cho S rồi hẹn ngày giao xe.
Vào ngày 20/3/2020, S gửi hình ảnh 01 chiếc xe ô tô, nhãn hiệu Ford Ecosport, biển số 86A.093.74 đến tài khoản Zalo của ông H tên “Ngọc H” để rao bán chiếc xe này với giá 400.000.000 đồng cùng thông tin mô tả về xe. Sau đó, anh H và S thống nhất với nhau mua bán chiếc xe ô tô trên với giá là 390.000.000 đồng. Đến chiều cùng ngày thì bà Trương Thị H1, sinh năm 1979 (vợ của ông H) đến phòng giao dịch ngân hàng S1, thành phố B để chuyển số tiền 390.000.000₫ vào số tài khoản 050056672467, chủ tài khoản mang tên Nguyễn Văn S, Ngân hàng S1. S hẹn ông H đến ngày 23/3/2020 sẽ thuê lái xe chạy chiếc xe ô tô biển số: 86A-093.74 đến thành phố B để bàn giao xe cho ông H. Sau khi nhận được số tiền trên, S đã liên hệ với người rao bán chiếc xe ô tô biển số 86A.093.74 nhưng người này không đồng ý bán xe nữa nên S đã tự ý sử dụng số tiền trên để mua 01 chiếc xe tải nhãn hiệu HuynĐai, mục đích để bán lại để thu lợi nhuận, sau đó sẽ dùng tiền lãi để trả tiền đặt mua xe cho ông H. Tuy nhiên, do làm ăn thua lỗ dẫn đến mất khả năng trả nợ nên S đã cấn trừ lại chiếc xe tải nhãn hiệu HuynDai mua được từ tiền của ông H để trả cho chủ nợ. Đến ngày 23/3/2020, S không có xe để giao cho ông H theo thỏa thuận nên đã chặn liên lạc với ông H, cắt đứt liên lạc và bỏ đi khỏi nơi cư trú để trốn tránh việc trả tiền. Ông H đã gọi điện cho S nhiều lần nhưng thuê bao không liên lạc được. Sau đó, ông H đến cửa hàng mua bán xe tô cũ “Bảy Sơn” ở địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận nơi S thuê để kinh doanh tìm S. Tuy nhiên, cửa hàng này đã đóng cửa và không còn hoạt động. Ông H đến nhà của S thì không gặp được S, qua tìm hiểu được biết S đã bị vỡ nợ và bỏ trốn, không ai biết S đi đâu, làm gì. Do đó, đến ngày 06/5/2020, ông H đã làm đơn tố giác đến Công an thành phố B về việc bị Nguyễn Văn S chiếm đoạt số tiền 390.000.000 đồng thông qua việc mua bán xe ô tô.
Bản Cáo trạng số 162/CT-VKSBL, ngày 05 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
+ Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ”. Áp dụng a khoản 1, khoản 3 Điều 175; Điều 38 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn S đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho ông Lê Ngọc H toàn bộ số tiền 390.000.000₫ bằng hình thức chuyển khoản và nhận tiền trực tiếp. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự nên không xem xét.
+ Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
+ Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn S đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; lời khai của bị hại; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 20/3/2020, S gửi hình ảnh 01 chiếc xe ô tô, nhãn hiệu Ford Ecosport, biển số 86A.093.74 đến tài khoản Zalo của ông H tên “Ngọc H” để rao bán chiếc xe này với giá 400.000.000 đồng cùng thông tin mô tả về xe. Sau đó, ông H và S thống nhất với nhau mua bán chiếc xe ô tô trên với giá là 390.000.000 đồng. Chiều cùng ngày tại phòng giao dịch ngân hàng S1, thành phố B, bà Trương Thị H1 (là vợ của ông Lê Ngọc H) đã chuyển số tiền 390.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của Nguyễn Văn S để mua lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Ecosport, biển số 86A-093.74 do S chào bán. Theo như thỏa thuận thì đến ngày 23/3/2020 S phải giao xe cho ông Lê Ngọc H tại thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận được số tiền trên từ ông H, S không giao xe cho ông H mà tự ý sử dụng vào mục đích khác dẫn đến mất khả năng chi trả. Đồng thời, S đã bỏ trốn khỏi địa phương nhằm chiếm đoạt số tiền 390.000.000 đồng của ông Lê Ngọc H.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi giao dịch bằng hình thức mua bán xe ô tô, sau khi đã nhận tiền nhưng không giao xe và đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú để đến các địa phương khác sinh sống nhằm mục đích chiếm đoạt. Hành vi này bị pháp luật nghiêm cấm nhưng với thái độ xem thường kỷ cương pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường, khắc phục hậu quả; bị hại viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt; phạm tội lần đầu. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Bị cáo có có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là phù hợp.
[8] Phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung.
[9] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn S đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho ông Lê Ngọc H toàn bộ số tiền 390.000.000đ bằng hình thức chuyển khoản và nhận tiền trực tiếp. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự nên không xem xét.
[10] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[11] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 175; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/7/2024.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về ..., án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 170/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 170/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: S chiếm đoạt 390.000.000đ
