|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 168/2024/HS-ST Ngày: 06-12-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Tuấn Tú và bà Lê Thị Thanh Nhàn.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 165/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trung Đ, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 18/10/1995, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số C T, thôn K, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Kim H, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1971; có vợ: Vũ Thùy V1, sinh năm 1997; con: Có 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 12/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
+ Bị hại:
- Chị Lê Thị Kim H1, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Anh Lê Ngọc L, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Chị Trần Thị Lan H2, sinh năm: 1987; địa chỉ: Số H Quốc lộ B, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Anh Phí Đình M, sinh năm: 1995; địa chỉ: số B P, Phường A, thành phố B. Có mặt.
- Chị Nguyễn Thị Mai T, sinh năm 1993; địa chỉ: Số I, đường P, Phường A, thành phố B. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Lê Khánh Q, sinh năm 1992; địa chỉ: Số E, đường L, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Anh Lê Thế K, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Ông Lê Thế X, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Anh Lê Văn S, sinh năm: 1980; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Chị Lê Thị B, sinh năm: 1984; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Chị Vũ Thị Ánh H3, sinh năm: 1992; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Anh Vũ Đặng Minh T1, sinh năm: 2002; địa chỉ: Số H đường T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Anh Vũ Ngọc T2, sinh năm: 2003; địa chỉ: Số H, đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Anh Trần Thanh N, sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hữu L1, sinh năm: 1995; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn H4, sinh năm: 1983; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Ông Đặng Đình T3, sinh năm: 1971; địa chỉ: Số A Quốc lộ B, thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Anh Trần Trương Minh H5, sinh năm: 1998; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Anh Lâm Quốc T4, sinh năm: 1995; địa chỉ: Thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Chị Lê Thị Thu T5, sinh năm: 1994; địa chỉ: Thôn I, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1991; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thanh T6, sinh năm: 1992; địa chỉ: Số A B, thôn F, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm: 1966; địa chỉ: Số A, đường T, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bà Mai Thị D, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm E, thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Chị Lâm Thị Phương T7, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Chị Hồ Ngọc Anh D1, sinh năm: 1996; địa chỉ: Số A, H, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Chị Vũ Thị H3, sinh năm: 2001; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thúy H6, sinh năm: 1994; địa chỉ: Thôn I, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Trường S1, sinh năm 2000; địa chỉ: Số A N, phường L, thành phố B, Lâm Đồng. Vắng mặt.
- - Chị Vũ Thùy V1, sinh năm 1997; địa chỉ: Số G P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
+ Người làm chứng: Anh Nguyễn Hoàng A; địa chỉ: Số I P, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trung Đ là giáo viên dạy thực hành lái xe ô tô tại Trung tâm G, địa chỉ số C đường T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng từ ngày 18/10/2020 đến ngày 15/11/2023 thì xin thôi việc. Vào khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm 2023 do làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ nần nhiều không có khả năng trả nợ nên Đ đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của những người đăng ký học và thi cấp Giấy phép lái xe ô tô tại Trung tâm G. Thực hiện ý định, Đ lợi dụng việc mình là giáo viên dạy thực hành lái xe được nhiều người tin tưởng nên Đ đã liên hệ với những người có nhu cầu học và thi cấp Giấy phép lái xe ô tô rồi đưa ra thông tin gian dối về việc Đ sẽ trực tiếp nhận hồ sơ và tiền của người tham gia học sau đó sẽ nộp về Trung tâm G để đăng ký học lái xe ô tô cho những người này. Để mọi người tin tưởng Đ đưa mẫu hồ sơ đăng ký học lái xe ô tô cho những người đăng ký học để viết thông tin cá nhân và ký tên xác nhận, đồng thời yêu cầu những người này nộp hình thẻ, giấy khám sức khỏe cho Đ. Bên cạnh đó, nhằm chiếm đoạt thêm tiền từ những người đăng ký học lái xe ô tô Đ đã tự bố trí cho những người này tham gia các buổi chạy xe ô tô có thiết bị giám sát thời gian và quãng đường thực hành lái xe (thường gọi là chạy DAT) để những người đăng ký học lái xe ô tô tin tưởng giao tiền cho Đ. Tuy nhiên, sau khi nhận được tiền từ những người đăng ký học lái xe ô tô, Đ không nộp về Trung tâm G mà sử dụng để trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.
Thông qua thủ đoạn nêu trên, Nguyễn Trung Đ đã trực tiếp nhận tiền mặt hoặc thông qua hình thức nhận chuyển khoản (sử dụng số tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI, Ngân hàng TMCP B2 số [...] tên N1) để chiếm đoạt tổng số tiền: 486.320.000đ (bốn trăm tám mươi sáu triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng) của 29 (hai mươi chín) bị hại cụ thể như sau:
- Đối với chị Lê Thị Kim H1 sinh năm 1998, nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến 30/9/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 16.635.000đ (mười sáu triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng) của chị Lê Thị Kim H1. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Vào khoảng tháng 03 năm 2023, tại trường L3, ở địa chỉ số C đường T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, chị Lê Thị Kim H1 đã trực tiếp đưa cho Đ số tiền 12.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô hạng B2.
- + Lần thứ hai: Ngày 14/07/2023, chị Lê Thị Kim H1 đã dùng tài khoản Ngân hàng A3 số 5495205126220 tên LE THI KIM HUONG chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Đ số tiền 2.635.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe ô tô. (chị H1 chuyển cùng với tiền lệ phí thi của anh Lê Ngọc L);
- + Lần thứ ba: Ngày 30/9/2023, chị Lê Thị Kim H1 đã dùng tài khoản Ngân hàng A3 số 5495205126220 tên LE THI KIM H chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho Đ số tiền 2.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT cho chị Lê Thị Kim H1 (chị H1 chuyển cùng với tiền chi phí chạy DAT của anh Lê Ngọc L).
- Đối với anh Lê Ngọc L, sinh năm 2005, nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến 30/9/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 16.635.000đ (mười sáu triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng) của anh Lê Ngọc L. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Khoảng tháng 03 năm 2023, tại trường lái Bá Thiên, chị Lê Thị Kim H1 đã đưa cho Đ số tiền 12.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô hạng B2 cho anh L tại Trung tâm B.
- + Lần thứ hai: Ngày14/7/2023, chị Lê Thị Kim H1 dùng tài khoản Ngân hàng A3 số 5495205126220 tên LE THỊ KIM HUONG chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Đ số tiền 2.635.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe ô tô cho anh Lê Ngọc L.
- + Lần thứ ba: Ngày 30/9/2023, chị Lê Thị Kim H1 dùng tài khoản Ngân hàng A3 số 5495205126220 tên LE THỊ KIM HUONG chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Đ số tiền 2.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT cho anh L.
- Đối với chị Trần Thị Lan H2 sinh năm 1987, nơi cư trú: Số H Quốc lộ B, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/02/2022 đến ngày 02/10/2023 Nguyễn Trung Đ đã 04 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 15.450.000đ (mười lăm triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) của chị Trần Thị Lan H2. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 14/02/2022, tại nhà chị Trần Thị Xuân H7 ở xã Đ, thành phố B, chị Trần Thị Lan H2 đã nhờ chị H7 chuyển cho Đ số tiền 4.200.000đ. Sau đó chị H7 đã sử dụng ứng dụng Mobile Banking chuyển vào tài khoản Ngân hàng TMCP B2 số [...] tên NGUYEN TRUNG DUC cho Đ số tiền 4.200.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô cho chị Trần Thị Lan H2;
- + Lần thứ hai: Ngày 26/05/2023, chị Trần Thị Lan H2 đã dùng tài khoản Ngân hàng V3 số [...] tên TRAN THI LAN HUONG chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho bị cáo Đ số tiền 5.500.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô.
- + Lần thứ ba: Ngày 27/06/2023, chị Trần Thị Lan H2 đã dùng tài khoản Ngân hàng V3 số [...] tên TRAN THỊ LAN H chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 3.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT.
- + Lần thứ tư: Ngày 02/10/2023, chị Trần Thị Lan H2 đã dùng tài khoản Ngân hàng V2 số 1035514836 tên TRAN THỊ LAN H chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 2.750.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe ô tô.
- Đối với anh Phí Đình M, sinh năm 1995, nơi cư trú: Số B, đường P, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 28/3/2023 đến ngày 18/9/2023 Nguyễn Trung Đ đã 04 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) của anh M. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 28/03/2023, anh M đã dùng tài khoản Ngân hàng V2 số 1023923101 tên PHI DINH MINH chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Đ số tiền 8.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô
- + Lần thứ hai: Ngày 25/06/2023, tại trường L3, anh M đã dùng tài khoản Ngân hàng V2 số 1023923101 tên PHI DINH MINH chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Đ số tiền 2.000.000đ để tiền đăng ký học lái xe hạng B2 tại Trung tâm B.
- + Lần thứ ba: Khoảng tháng 07/2023, tại trường lái Bá T8, anh M đã trực tiếp đưa tiền cho bị cáo Đ số tiền 2.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô
- + Lần thứ tư: Ngày 18/9/2023, tại trường lái Bá T8, anh M đã dùng tài khoản Ngân hàng V2 số 1023923101 tên PHI DINH M chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho Đ số tiền: 2.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT.
- Đối với chị Nguyễn Thị Mai T, sinh năm 1993, nơi cư trú: Số I, đường P, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 16/01/2023 đến ngày 19/10/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) của chị T. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 16/11/2022, tại số A, đường P, phường A, thành phố B, chị T trực tiếp đưa cho Đ số tiền 12.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô
- + Lần thứ hai: Ngày 21/8/2023, chị T đã dùng tài khoản Ngân hàng V4 số [...] tên NGUYEN THI MAI T chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 3.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT;
- + Lần thứ ba: Ngày 19/10/2023, chị T đã dùng tài khoản Ngân hàng V4 số [...] tên NGUYEN THI MAI T chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị can Đ số tiền 3.000.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe.
- Đối với chị Nguyễn Lê Khánh Q, sinh năm 1992, nơi cư trú: Số E, đường L, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 17/02/2023 đến ngày 07/9/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 14.750.000đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) của chị Q. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 17/02/2023, tại nhà anh Võ Hoàng A1, địa chỉ: Hẻm S, đường L, phường L, thành phố B chị Q trực tiếp đưa cho bị cáo Đ số tiền 6.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô
- + Lần thứ hai: Ngày 19/06/2023, chị Q đã sử dụng ứng dụng MOMO chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Đ số tiền 6.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô
- + Lần thứ ba: Ngày 07/09/2023, chị Q đã sử dụng ứng dụng MOMO chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho bị cáo Đ số tiền 2.750.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe ô tô.
- Đối với anh Lê Thế K, sinh năm: 1996, nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2022 đến tháng 9 năm 2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 16.700.000đ (mười sáu triệu bảy trăm ngàn đồng) của anh K. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Khoảng cuối năm 2022, tại trường L3, anh K đã trực tiếp đưa cho Đ số tiền 12.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô cho anh K (đưa cùng tiền đăng ký học lái xe của ông Lê Thế X, anh Lê Văn S, chị Lê Thị B).
- + Lần thứ hai: Khoảng tháng 6/2023, tại trường L3, anh K đã trực tiếp đưa cho Đ số tiền 2.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT.
- + Lần thứ ba: Khoảng tháng 9/2023, tại trường L3, anh K đã trực tiếp đưa cho bị cáo Đ số tiền 2.700.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe ô tô
- Đối với ông Lê Thế X, sinh năm 1965, nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2022 đến tháng 6 năm 2023 Nguyễn Trung Đ đã 02 lần chiếm đoạt tổng số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) của ông X. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Khoảng cuối năm 2022, tại trường L3, ông X đã nhờ anh Lê Thế K đưa cho Đ số tiền 12.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô cho ông X;
- + Lần thứ hai: Khoảng tháng 6/2023, tại trường L3, ông X đã nhờ anh Lê Thế K đưa Đ số tiền 2.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT.
- Đối với anh Lê Văn S, sinh năm 1980, nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2022 đến tháng 9 năm 2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền 16.700.000đ (mười sáu triệu bảy trăm ngàn đồng) của anh S. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Khoảng cuối năm 2022, anh S đã nhờ anh Lê Thế K đưa cho Đ số tiền 12.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe cho anh S;
- + Lần thứ hai: Khoảng tháng 6/2023, tại trường L3, anh S đã trực tiếp đưa cho Đ số tiền 2.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT;
- + Lần thứ ba: Khoảng tháng 9/2023, tại trường L3, anh S đã trực tiếp đưa cho Đ số tiền 2.700.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe ô tô.
- Đối với chị Lê Thị B, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2022 đến tháng 6 năm 2023 Nguyễn Trung Đ đã 02 lần chiếm đoạt tổng số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) của chị B. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Khoảng cuối năm 2022, chị B đã nhờ anh Lê Thế K đưa cho Đ số tiền 12.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô cho chị B;
- + Lần thứ hai: Khoảng tháng 6/2023, tại trường L3, chị B đã trực tiếp đưa cho Đ số tiền 2.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT.
- Đối với chị Vũ Thị Ánh H3, sinh năm 1992, nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến tháng 9/2023 Nguyễn Trung Đ đã 02 lần chiếm đoạt tổng số tiền 17.750.000đ của chị H3. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Khoảng tháng 12/2022 do có nhu cầu học lái xe ô tô hạng B1, nên chị H3 đã nhờ chồng là anh Nguyễn Mạnh C1 liên hệ với Nguyễn Trung Đ để đăng ký tham gia học lái xe. Đ thông báo tiền học phí học lái xe của chị H3 hết 12.000.000đ. Tuy nhiên trước đó do Đ còn nợ anh Nguyễn Mạnh C1 số tiền 7.000.000đ nên Đ nói sẽ cấn trừ vào tiền học phí lái xe cho chị H3. Do vậy vào ngày 30/12/2022, chị H3 đã dùng tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000583766 tên VU THI ANH HANG chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Đ số tiền 6.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô cho chị H3. Như vậy, tổng số tiền chị H3 đưa cho Đ là 12.000.000đ
- + Lần thứ hai: Khoảng tháng 9/2023, tại trường lái Bá Thiên, chị H3 đã nhờ anh Nguyễn Mạnh C1 (chồng của chị H3) đưa cho Đ số tiền 5.750.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT và tiền lệ phí thi lái xe cho chị H3.
- Đối với anh Vũ Đặng Minh T1, sinh năm 2002, nơi cư trú: Số H, đường T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 06/01/2023 đến ngày 24/8/2023 Nguyễn Trung Đ đã 02 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) của anh T1. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 06/01/2023, anh T1 đã đưa tiền cho anh Nguyễn Trường S1. Sau đó, anh S1 đã dùng tài khoản Ngân hàng B3 số 64210000754306 tên NGUYEN TRUONG SON chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho bị cáo Đ số tiền: 15.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô hạng C cho anh T1 (chuyển cùng tiền đăng ký học lái xe của anh Vũ Ngọc T2).
- + Lần thứ hai: Ngày 24/8/2023, anh T1 đã dùng tài khoản Ngân hàng V2 số 1021094759 tên VU DANG MINH TRI chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho bị cáo Đ số tiền 2.750.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe cho anh T1.
- Đối với anh Vũ Ngọc T2, sinh năm 2003, nơi cư trú: Số H, đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 06/01/2023 đến ngày 24/8/2023 Nguyễn Trung Đ đã 02 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) của anh T2. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 06/01/2023, anh T2 đã đưa cho anh Nguyễn Trường S1 số tiền 15.000.000đ. Sau đó, anh S1 đã dùng tài khoản Ngân hàng B3 số 64210000754306 tên NGUYEN TRUONG SON chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Đ số tiền: 15.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe hạng C cho anh T2 (chuyển cùng tiền đăng ký học lái xe của anh Vũ Đặng Minh T1).
- + Lần thứ hai: Ngày 24/8/2023, anh T2 đã dùng tài khoản Ngân hàng V5 số [...] tên VU NGỌC TRUNG chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Đ số tiền 2.750.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe ô tô.
- Đối với anh Trần Thanh N, sinh năm 1988, nơi cư trú: Thôn A, xã B' L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian tháng 03/2023 Nguyễn Trung Đ đã 02 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 35.000.000đ (ba mười lăm triệu đồng) của anh N. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Khoảng tháng 03/2023, anh N đã đưa cho anh S1 số tiền 22.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Sau đó anh S1 đã đưa cho Đ số tiền 22.000.000đ (hai mươi triệu đồng) trên để nộp tiền đăng ký học Giấy phép lái xe ô tô hạng C cho anh N tại Trung tâm B.
- + Lần thứ hai: Sau lần thứ nhất một vài ngày, cũng tại Trường L3, anh N trực tiếp đưa cho Đ số tiền 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) để nộp tiền đăng ký học Giấy phép lái xe ô tô.
- Đối với anh Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1995, nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/9/2022 đến ngày 21/9/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 18.600.000đ (mười tám triệu sáu trăm ngàn đồng) của anh L1. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 14/9/2022, tại nhà anh L1 ở địa chỉ: Số A, Quốc lộ B, xã Đ, thành phố B, anh L1 đã đưa trực tiếp cho bị cáo Đ số tiền: 8.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô.
- + Lần thứ hai: Ngày 26/06/2023, anh L1 dùng tài khoản Ngân hàng S2 số [...] tên NGUYEN HUU LONG chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Đ 2.700.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe ô tô (chuyển cùng tiền của anh H4).
- + Lần thứ ba: Ngày 21/09/2023, anh L1 dùng tài khoản Ngân hàng S2 số [...] tên NGUYEN HUU LONG chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Đ số tiền: 7.900.000đ để nộp bổ sung tiền đăng ký học lái xe ô tô cho anh L1.
- Đối với anh Nguyễn Văn H4, sinh năm 1983, nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/9/2022 đến ngày 26/6/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 18.700.000đ (mười tám triệu sáu trăm ngàn đồng) của anh H4. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 14/9/2022, tại nhà anh L1, ở địa chỉ: Số A, Quốc lộ B, xã Đ, thành phố B, anh H4 đã trực tiếp đưa cho Đ số tiền 8.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô (anh H4 nộp cùng lúc với anh L1);
- + Lần thứ hai: Ngày 10/6/2023, anh H4 đã dùng tài khoản Ngân hàng B3 số 6420286030 tên NGUYEN VAN H chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho Đ số tiền: 8.000.000đ để đăng ký học lái xe ô tô.
- + Lần thứ ba: Ngày 26/06/2023, anh H4 đã nhờ anh Nguyễn Hữu L1 chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Đ số tiền 2.700.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe ô tô cho anh H4 (chuyển cùng tiền của anh L1).
- Đối với anh Đặng Đình T3, sinh năm 1971, nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/01/2023 đến tháng 8/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 24.000.000đ (hai mươi bốn triệu đồng) của anh T3. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 14/01/2023 tại nhà anh T3 ở địa chỉ: Số A, Quốc lộ B, xã Đ, thành phố B, anh T3 đã dùng tài khoản Ngân hàng B3 số 64210000215186 tên DANG DINH TUYEN chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho bị cáo Đ số tiền 10.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô.
- + Lần thứ hai: Khoảng tháng 5/2023 tại Khu Công nghiệp L khi anh Nguyễn Trường S1 đang dạy lái xe cho anh T3, bị can Đ đã nói anh T3 đưa cho anh Nguyễn Trường S1 số tiền 8.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe, nghe vậy anh T3 đã đưa cho anh S1 số tiền trên. Sau đó, anh S1 đưa lại số tiền 8.000.000đ cho bị cáo Đ.
- + Lần thứ ba: Khoảng tháng 8/2023, tại nhà anh T3 ở địa chỉ: Số A, Quốc lộ B, xã Đ, thành phố B, anh T3 đã đưa trực tiếp cho bị cáo Đ số tiền 6.000.000đ nộp tiền chi phí chạy DAT và lệ phí thi lái xe.
- Đối với anh Trần Trương Minh H5, sinh năm 1998, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 13/5/2023 đến ngày 19/9/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 15.300.000đ (mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng) của anh H5. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 13/05/2023, anh H5 đã dùng tài khoản Ngân hàng MB số 56799999999979 tên TRAN TRUONG MINH H chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 6.700.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe.
- + Lần thứ hai: Ngày 16/06/2023, anh H5 đã dùng tài khoản Ngân hàng MB số 56799999999979 tên TRAN TRUONG MINH H chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 6.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô.
- + Lần thứ ba: Ngày 19/09/2023, anh H5 đã dùng tài khoản Ngân hàng MB số 56799999999979 tên TRAN TRUONG MINH H chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 2.600.000đ để nộp tiền lệ phí học lái xe ô tô.
- Đối với anh Lâm Quốc T4, sinh năm 1995, nơi cư trú: Thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2023 đến ngày 13/7/2023 Nguyễn Trung Đ đã 02 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 19.000.000đ (mười chín triệu đồng) của anh T4. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Khoảng tháng 02/2023, tại nhà anh T4 ở địa chỉ: Số I, đường Đ, xã L, thành phố B, anh T4 đã trực tiếp đưa cho bị can Đ số tiền 9.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô.
- + Lần thứ hai: Ngày 13/07/2023, anh T4 dùng tài khoản Ngân hàng S2 số [...] tên NGUYEN THI H chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 10.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô.
- Đối với chị Lê Thị Thu T5, sinh năm 1994, nơi cư trú: Thôn I, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 29/5/2023 đến tháng 9/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) của chị T5. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 29/05/2023, chị T5 đã nhờ anh Lê Văn P (chồng chị T5) dùng tài khoản Ngân hàng MB số 0987987234 tên LE VAN P chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 12.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe cho chị T5 (anh P đã chuyển cùng với tiền đăng ký học lái xe của chị Nguyễn Thị Y).
- + Lần thứ hai: Khoảng ngày 12/07/2023, tại Trường L, chị T5 đã nhờ anh Lê Văn P (chồng của chị T5) dùng tài khoản Ngân hàng MB số 0987987234 tên LE VAN PHUC chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho bị cáo Đ số tiền 3.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT cho chị T5 (anh P đã chuyển cùng với tiền chi phí chạy DAT của chị Nguyễn Thị Y).
- + Lần thứ ba: Khoảng tháng 9/2023, tại trường Lái Bá T8, chị T5 đã trực tiếp đưa cho bị cáo Đ số tiền 2.750.000 để nộp tiền lệ phí thi lái xe cho chị T5.
- Đối với Nguyễn Thị Y, sinh năm 1991, nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 29/5/2023 đến tháng 9/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) của chị Y. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 29/05/2023, chị Y đã nhờ anh Lê Văn P (chồng của chị T5) dùng tài khoản Ngân hàng MB số 0987987234 tên LE VAN P chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) để nộp tiền đăng ký học lái xe cho chị Y.
- + Lần thứ hai: Ngày 12/07/2023, chị Y đã nhờ anh Lê Văn P (chồng của chị T5) dùng tài khoản Ngân hàng MB số 0987987234 tên LE VAN P chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 3.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT cho chị Y.
- + Lần thứ ba: Khoảng tháng 9/2023, tại trường Lái Bá T8, chị Y đã trực tiếp đưa cho bị cáo Đ số tiền 2.750.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe.
- Đối với chị Nguyễn Thị Thanh T6, sinh năm 1992, nơi cư trú: Thôn I, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 15/9/2022 đến ngày 06/9/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) của chị T6. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 15/9/2022, chị T6 đã nhờ anh Phan Văn H8 (chồng của chị T6) dùng tài khoản Ngân hàng B3 số 64210000640140 tên PHAN VAN H chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 12.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe cho chị T6.
- + Lần thứ hai: Ngày 10/07/2023, chị T6 đã dùng tài khoản Ngân hàng B3 số 64210000640168 tên NGUYEN THI THANH T chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 3.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT;
- + Lần thứ ba: Ngày 06/09/2023, chị T6 đã dùng tài khoản Ngân hàng B3 số 64210000640168 tên NGUYEN THI THANH T chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị can Đ số tiền 2.750.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe cho chị T6.
- Đối với bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1966, nơi cư trú: Số A, đường T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Vào ngày 12/10/2023, tại nhà số A, đường T, Phường B, thành phố B, bà L2 đã trực tiếp đưa cho Đ số tiền 11.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe cho anh Đinh Văn T9, sinh năm: 1996, nơi cư trú: số A, đường T, phường B, thành phố B (anh T9 là con trai của bà L2).
- Đối với chị Mai Thị D, sinh năm 1990, nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 20/10/2022 đến ngày 27/6/2023 Nguyễn Trung Đ đã 02 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) của chị D. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 20/10/2022, chị D đã dùng tài khoản Ngân hàng A4 số 16272997 tên MAI THI D chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 12.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe cho chị D (chuyển cùng tiền đăng ký học của chị Nguyễn Thị C).
- + Lần thứ hai: Ngày 27/06/2023, chị D đã nhờ chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1990, nơi cư trú: Xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng dùng tài khoản Ngân hàng A3 số 5413205065193 tên NGUYEN THI C chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 3.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT cho chị D.
- Đối với chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1990, nơi cư trú: Xóm E, thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ ngày 20/10/2022 đến ngày 27/6/2023 Nguyễn Trung Đ đã 02 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) của chị C. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Ngày 20/10/2022, chị C đã nhờ chị Mai Thị D, sinh năm 1990, nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng dùng tài khoản Ngân hàng A4 số 16272997 tên MAI THI D chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền: 12.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe cho chị C.
- + Lần thứ hai: Ngày 27/06/2023, chị C đã dùng tài khoản Ngân hàng A3 số 5413205065193 tên NGUYEN THI C chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị cáo Đ số tiền 3.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT cho chị C.
- Đối với chị Lâm Thị Phương T7, sinh năm 2000, nơi cư trú: Thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Vào ngày 17/08/2023, chị T7 đã dùng ứng dụng MOMO chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY V cho bị can Đ số tiền 2.850.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe cho chị T7.
- Đối với chị Hồ Ngọc Anh D1, sinh năm 1996, nơi cư trú: Số A, H, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Vào ngày 10/11/2022, chị D1 đã dùng tài khoản Ngân hàng B3 số 6420344071 tên HO NGOC ANH D chuyển vào tài khoản Ngân hàng N2 số [...] tên NGUYEN TRUNG DUC cho bị cáo Đ số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) để nộp tiền đăng ký học lái xe cho chị D1.
- Đối với chị Vũ Thị H3, sinh năm 2001, nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2022 đến ngày 11/9/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) của chị H3. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Khoảng tháng 11/2022, tại nhà chị H3, ông Vũ Văn B1, sinh năm 1973 (bố ruột của chị H3) đã trực tiếp đưa cho bị cáo Đ số tiền 12.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô cho chị H3.
- + Lần thứ hai: Ngày 23/06/2023 chị H3 đã dùng tài khoản Ngân hàng MB số 0001710905693 tên VU THI H chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 tên V6 cho bị cáo Đ số tiền: 3.000.000đ để nộp tiền chi phí chạy DAT.
- + Lần thứ ba: Ngày 11/09/2023 chị H3 đã dùng tài khoản Ngân hàng MB số 0001710905693 tên VU THI H chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 tên V6 cho bị can Đ số tiền 2.750.000đ để nộp tiền lệ phí thi lái xe.
- Đối với chị Nguyễn Thị Thúy H6, sinh năm 1994, nơi cư trú: Thôn I, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến ngày 11/9/2023 Nguyễn Trung Đ đã 03 lần chiếm đoạt tổng số tiền là 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) của chị H6. Cụ thể như sau:
- + Lần thứ nhất: Khoảng tháng 12/2022, tại Spa T, địa chỉ: Số A, đường B, phường B, thành phố B, chị H6 đã trực tiếp cho bị cáo Đ số tiền 6.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe ô tô.
- + Lần thứ hai: Ngày 23/05/2023, chị H6 đã dùng tài khoản Ngân hàng S2 số [...] tên NGUYEN THI THUY HG chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 tên V6 cho bị cáo Đ số tiền 6.000.000đ để nộp tiền đăng ký học lái xe.
- + Lần thứ ba: Ngày 11/09/2023 chị H6 đã dùng tài khoản Ngân hàng S2 số [...] tên NGUYEN THI THUY H chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 tên V6 cho bị cáo Đ số tiền 5.750.000đ để đóng chi phí chạy DAT và lệ phí thi lái xe ô tô.
Ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại nêu trên. Từ năm 2022 đến năm 2023 Nguyễn Trung Đ còn vay tiền của chị Lê Thị Kim H1 số tiền 9.000.000đ, vay tiền của anh Lê Thế K số tiền 20.000.000đ, vay tiền của anh Đặng Đình T3 số tiền 40.000.000đ, vay tiền của chị Nguyễn Thị Thanh T6 số tiền 7.000.000đ, vay tiền của bà Nguyễn Thị L2 số tiền 15.000.000đ, vay tiền của chị Lâm Thị Phương T7 số tiền 2.000.000đ, vay tiền của chị Hồ Ngọc A2 Diễm số tiền 47.650.000đ.
Bản Cáo trạng số 165/CT-VKSBL, ngày 06 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Trung Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- + Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Đ từ 08 năm đến 09 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung.
- Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 463, 466 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Các bị hại gồm: Chị Lê Thị Kim H1 yêu cầu Đ phải bồi thường số tiền 16.635.000đ (mười sáu triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng); anh Lê Ngọc L yêu cầu bồi thường số tiền 16.635.000đ (mười sáu triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng); chị Trần Thị Lan H2 yêu cầu bồi thường số tiền 15.450.000đ (mười lăm triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng); anh Phí Đình M, yêu cầu bồi thường số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng); chị Nguyễn Thị Mai T yêu cầu bồi thường số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng); chị Nguyễn Lê Khánh Q yêu cầu bồi thường số tiền 14.750.000đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng); anh Lê Thế K yêu cầu bồi thường số tiền 16.700.000đ (mười sáu triệu bảy trăm ngàn đồng); ông Lê Thế X yêu cầu bồi thường số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng); anh Lê Văn S yêu cầu bồi thường số tiền 16.700.000đ (mười sáu triệu bảy trăm ngàn đồng); chị Lê Thị B yêu cầu bồi thường số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng); chị Vũ Thị Ánh H3 yêu cầu bồi thường số tiền 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng); anh Vũ Đặng Minh T1 yêu cầu bồi thường số tiền: 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng); anh Vũ Ngọc T2 yêu cầu bồi thường số tiền 17.750.000đ (mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng); anh Trần Thanh N yêu cầu bồi thường số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng); anh Nguyễn Hữu L1 yêu bồi thường số tiền 18.600.000đ (mười tám triệu sáu trăm ngàn đồng); anh Nguyễn Văn H4 yêu cầu bồi thường số tiền 18.700.000đ (mười tám triệu bảy trăm ngàn đồng); anh Trần Trương Minh H5 yêu cầu bồi thường số tiền 15.300.000đ (mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng); anh Lâm Quốc T4 yêu cầu bồi thường số tiền 19.000.000đ (mười chín triệu đồng); chị Lê Thị Thu T5 yêu cầu bồi thường số tiền 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng); chị Nguyễn Thị Thanh T6 yêu cầu bồi thường số tiền 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng); bà Nguyễn Thị L2 yêu cầu bồi thường số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng); chị Mai Thị D yêu cầu bồi thường số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng); chị Nguyễn Thị C yêu cầu bồi thường số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
- Chị Lâm Thị Phương T7, chị Vũ Thị H3, Nguyễn Thị Thúy H6 và chị Hồ Ngọc Anh D1 không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên không xem xét.
- Bị cáo Đ đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Y số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng), không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không xem xét.
- Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của ông Đặng Đình T3 là 24.000.000 đồng. Tại phiên tòa, ông T3 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chiếm đoạt là 14.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng nên ghi nhận.
- Ngoài ra, từ năm 2022 đến năm 2023 Nguyễn Trung Đ còn vay tiền của chị Lê Thị Kim H1 số tiền 9.000.000đ, vay tiền của anh Lê Thế K số tiền 20.000.000đ, vay tiền của anh Đặng Đình T3 số tiền 40.000.000đ, vay tiền của chị Nguyễn Thị Thanh T6 số tiền 7.000.000đ, vay tiền của bà Nguyễn Thị L2 số tiền 15.000.000đ, vay tiền của chị Lâm Thị Phương T7 số tiền 2.000.000đ, vay tiền của chị Hồ Ngọc A2 Diễm số tiền 47.650.000đ.
- Quá trình điều tra chị Hồ Ngọc Anh D1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 47.650.000đ, chị Lâm Thị Phương T7 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 2.000.000đ nên không xem xét.
- Tại phiên tòa anh Lê Thế K chỉ yêu cầu bị cáo trả lại ½ số tiền là 10.000.000đ, bà Nguyễn Thị L2 chỉ yêu cầu trả lại ½ số tiền 7.500.000đ, Nguyễn Thị Thanh T6 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 7.000.000đ và chị Lê Thị Kim H1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 9.000.000đ. Ông Đặng Đình T3 yêu cầu bị cáo Nguyễn Trung Đ phải trả lại số tiền 40.000.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường và trả lại khoản tiền vay cho các bị hại nêu trên nên ghi nhận.
- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- + Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên. Bị cáo đồng ý bồi thường và trả lại số tiền vay mà các bị hại yêu cầu.
- + Bị hại: Thống nhất với trình bày luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
- - Chị Nguyễn Thị Thanh T6 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) và không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền vay là 7.000.000 đồng.
- - Chị Lê thị Kim H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 16.635.000 đồng, không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền vay là 9.000.000 đồng.
- - Anh Lê Ngọc L yêu cầu bồi thường số tiền 16.635.000 đồng.
- - Anh Phí Đình M yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 14.000.000 đồng.
- - Chị Nguyễn Lê Khánh Q yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 14.750.000 đồng.
- - Anh Lê Thế K yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 16.700.000 đồng và yêu cầu bị cáo trả lại ½ số tiền vay là 10.000.000 đồng.
- - Ông Lê Thế X yêu cầu bồi thường số tiền 14.000.000 đồng.
- - Anh Lê Văn S yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 16.700.000 đồng.
- - Chị Lê Thị B yêu cầu bồi thường số tiền 14.000.000 đồng.
- - Chị Vũ Thị Ánh H3 yêu cầu bồi thường số tiền 17.750.000 đồng.
- - Ông Đặng Đình T3 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 14.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Yêu cầu bị cáo trả lại số tiền vay là 40.000.000 đồng.
- - Bà Nguyễn Thị L2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 11.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo trả lại ½ số tiền vay là 7.500.000 đồng.
- + Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trung Đ đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; lời khai của bị hại; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm 2023 do làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ nần nhiều, không có khả năng trả nợ nên Nguyễn Trung Đ đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối thông qua hình thức nhận tiền đăng ký học giấy phép lái xe ô tô, tiền chi phí chạy DAT và tiền lệ phí thi cấp Giấy phép lái xe ô tô tại Trung tâm G, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Nguyễn Trung Đ đã nhiều lần chiếm đoạt tiền của 29 bị hại với tổng số tiền là 486.320.000đ (bốn trăm tám mươi sáu triệu, ba trăm hai mươi ngàn đồng).
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đưa ra thông tin gian dối, làm cho các bị hại giao nhận tiền để chiếm đoạt tài sản của 29 bị hại với tổng số tiền là 486.320.000 đồng, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi này bị pháp luật nghiêm cấm nhưng với thái độ xem thường kỷ cương pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo; đã bồi thường được một phần thiệt hại và được một số bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 74 lần chiếm đoạt tiền có giá trị từ 2.000.000đ trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
[8] Phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung.
[9] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 463, 466 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 463, 466 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Các bị hại gồm: Chị Lê Thị Kim H1 yêu cầu Đ phải bồi thường số tiền 16.635.000đ (mười sáu triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng); anh Lê Ngọc L yêu cầu bồi thường số tiền 16.635.000đ (mười sáu triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng); chị Trần Thị Lan H2 yêu cầu bồi thường số tiền 15.450.000đ (mười lăm triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng); anh Phí Đình M, yêu cầu bồi thường số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng); chị Nguyễn Thị Mai T yêu cầu bồi thường số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng); chị Nguyễn Lê Khánh Q yêu cầu bồi thường số tiền 14.750.000đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng); anh Lê Thế K yêu cầu bồi thường số tiền 16.700.000đ (mười sáu triệu bảy trăm ngàn đồng); ông Lê Thế X yêu cầu bồi thường số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng); anh Lê Văn S yêu cầu bồi thường số tiền 16.700.000đ (mười sáu triệu bảy trăm ngàn đồng); chị Lê Thị B yêu cầu bồi thường số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng); chị Vũ Thị Ánh H3 yêu cầu bồi thường số tiền 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng); anh Vũ Đặng Minh T1 yêu cầu bồi thường số tiền: 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng); anh Vũ Ngọc T2 yêu cầu bồi thường số tiền 17.750.000đ (mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng); anh Trần Thanh N yêu cầu bồi thường số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng); anh Nguyễn Hữu L1 yêu bồi thường số tiền 18.600.000đ (mười tám triệu sáu trăm ngàn đồng); anh Nguyễn Văn H4 yêu cầu bồi thường số tiền 18.700.000đ (mười tám triệu bảy trăm ngàn đồng); anh Trần Trương Minh H5 yêu cầu bồi thường số tiền 15.300.000đ (mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng); anh Lâm Quốc T4 yêu cầu bồi thường số tiền 19.000.000đ (mười chín triệu đồng); chị Lê Thị Thu T5 yêu cầu bồi thường số tiền 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng); chị Nguyễn Thị Thanh T6 yêu cầu bồi thường số tiền 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng); bà Nguyễn Thị L2 yêu cầu bồi thường số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng); chị Mai Thị D yêu cầu bồi thường số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng); chị Nguyễn Thị C yêu cầu bồi thường số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
Chị Lâm Thị Phương T7, chị Vũ Thị H3, Nguyễn Thị Thúy H6 và chị Hồ Ngọc Anh D1 không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên không xem xét.
Bị cáo Đ đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Y số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng), không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không xem xét.
Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của ông Đặng Đình T3 là 24.000.000 đồng. Tại phiên tòa, ông T3 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chiếm đoạt là 14.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng nên ghi nhận.
Ngoài ra, từ năm 2022 đến năm 2023 Nguyễn Trung Đ còn vay tiền của chị Lê Thị Kim H1 số tiền 9.000.000đ, vay tiền của anh Lê Thế K số tiền 20.000.000đ, vay tiền của anh Đặng Đình T3 số tiền 40.000.000đ, vay tiền của chị Nguyễn Thị Thanh T6 số tiền 7.000.000đ, vay tiền của bà Nguyễn Thị L2 số tiền 15.000.000đ, vay tiền của chị Lâm Thị Phương T7 số tiền 2.000.000đ, vay tiền của chị Hồ Ngọc A2 Diễm số tiền 47.650.000đ.
Quá trình điều tra chị Hồ Ngọc Anh D1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 47.650.000đ, chị Lâm Thị Phương T7 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 2.000.000đ nên không xem xét.
Tại phiên tòa anh Lê Thế K chỉ yêu cầu bị cáo trả lại ½ số tiền là 10.000.000đ, bà Nguyễn Thị L2 chỉ yêu cầu trả lại ½ số tiền 7.500.000đ, Nguyễn Thị Thanh T6 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 7.000.000đ và chị Lê Thị Kim H1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 9.000.000đ. Ông Đặng Đình T3 yêu cầu bị cáo Nguyễn Trung Đ phải trả lại số tiền 40.000.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường và trả lại khoản tiền vay cho các bị hại nêu trên nên ghi nhận.
Bị cáo đồng ý bồi thường và trả lại khoản tiền vay cho các bị hại nêu trên nên ghi nhận.
[10] Các vấn đề khác:
Đối với hành của Nguyễn Trung Đ đã nhận của anh Nguyễn Trường S1, sinh năm 2000, nơi cư trú: số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tổng số tiền 60.500.000đ mục đích để nhờ Đ xin việc và sang lại số lượng học viên của Trung tâm GDNNTT Bá Thiên cho anh S1 trực tiếp dạy, mua thiết bị giám sát thời gian và quãng đường thực hành lái xe ô tô (hộp DAT). Xét thấy sau khi nhận số tiền này của anh S1 thì Đ đã thực hiện đúng như thỏa thuận nên đây chỉ là quan hệ dân sự, do vậy cơ quan CSĐT không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Trung Đ về hành vi này là đúng theo quy định của pháp luật nên không đề cập đến.
Đối với hành vi của anh Nguyễn Trường S1, sinh năm 2000, nơi cư trú: Số A, đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đã nhận tiền đăng ký học lái xe của anh Vũ Đặng Minh T1, anh Vũ Ngọc T2, anh Trần Thanh N và anh Đặng Đình T3 để đưa cho Nguyễn Trung Đ. Tuy nhiên khi nhận tiền của những người này giúp bị cáo Đ thì anh S1 không biết việc Đ dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của những người này. Do đó, cơ quan CSĐT Công an thành phố B không xem xét trách nhiệm hình sự của anh S1 với vai trò đồng phạm với bị can Đ là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của chị Vũ Thùy V1, sinh năm 1997, nơi cư trú: Số A, đường P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (là vợ của bị cáo Nguyễn Trung Đ) đã đưa tài khoản Ngân hàng V2 số 0561000563867 tên VU THUY VI cho Nguyễn Trung Đ sử dụng. Tuy nhiên chị V1 không biết việc sau khi nhận số tài khoản nêu trên bị cáo Đ sử dụng số tài khoản này vào việc phạm tội nên không xem xét trách nhiệm hình sự của chị V1 trong vụ án này.
[11] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/6/2024.
- Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 463, 466 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Trung Đ bồi thường cho:
- - Chị Lê Thị Kim H1 bồi thường số tiền 16.635.000đ (mười sáu triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng);
- - Anh Lê Ngọc L số tiền 16.635.000đ (mười sáu triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng);
- - Chị Trần Thị Lan H2 số tiền 15.450.000đ (mười lăm triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng);
- - Anh Phí Đình M số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng);
- - Chị Nguyễn Thị Mai T số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng);
- - Chị Nguyễn Lê Khánh Q số tiền 14.750.000đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng);
- - Anh Lê Thế K số tiền 16.700.000đ (mười sáu triệu bảy trăm ngàn đồng);
- - Ông Lê Thế X số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng);
- - Anh Lê Văn S số tiền 16.700.000đ (mười sáu triệu bảy trăm ngàn đồng);
- - Chị Lê Thị B số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng);
- - Chị Vũ Thị Ánh H3 số tiền 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng);
- - Anh Vũ Đặng Minh T1 yêu cầu bồi thường số tiền: 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng);
- - Anh Vũ Ngọc T2 số tiền 17.750.000đ (mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng);
- - Anh Trần Thanh N số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng);
- - Anh Nguyễn Hữu L1 số tiền 18.600.000đ (mười tám triệu sáu trăm ngàn đồng);
- - Anh Nguyễn Văn H4 số tiền 18.700.000đ (mười tám triệu bảy trăm ngàn đồng);
- - Ông Đặng Đình T3 số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng);
- - Anh Trần Trương Minh H5 số tiền 15.300.000đ (mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng);
- - Anh Lâm Quốc T4 số tiền 19.000.000đ (mười chín triệu đồng);
- - Chị Lê Thị Thu T5 số tiền 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng);
- - Chị Nguyễn Thị Thanh T6 số tiền 17.750.000đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng);
- - Bà Nguyễn Thị L2 số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng); chị Mai Thị D số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng);
- - Chị Nguyễn Thị C số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
Buộc bị cáo trả cho anh Lê Thế K số tiền vay gốc 10.000.000 đồng, ông Đặng Đình T3 số tiền vay gốc là 40.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị L2 số tiền 7.500.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Trung Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 25.752.800đ (hai mươi lăm triệu, bảy trăm năm mươi hai ngàn, tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 168/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đ chiếm đoạt 486.320.000đ
