|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 163/2024/HS-ST Ngày: 10/12/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Ngọc Ánh,
- Ông Hoàng Kim Đào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: Số D L, thành phố Đ), xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 156/2024/HSST ngày 01/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Bị cáo Nguyễn Quốc B, sinh năm 1997, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố G, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Nguyễn Văn H (Đã chết) và bà Võ Thị V, sinh năm: 1967; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con út; Vợ con: Chưa có;
Tiền sự, tiền án: Không;
Nhân thân: Ngày 02/02/2021, bị Công an huyện B, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép” (Đã thi hành quyết định ngày 16/7/2021);
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.
2. Bị hại: Ông Võ Sỹ N, sinh năm 1981; trú tại: Khu phố C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Dương A, sinh năm 1985; trú tại: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1994; trú tại: Khu phố B, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- - Ông Trần Xuân T, sinh năm 1991; trú tại: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
(1) Nguyễn Quốc B có quen biết với anh Võ Sỹ N từ trước. Vào khoảng ngày 05/6/2024, do không có phương tiện để đi lại nên B đến nhà của anh N để hỏi mượn anh N xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng đen, BKS: 74D1-109.81 để đi lại, thì anh N đồng ý rồi giao xe cho B mượn trong thời gian 07 ngày.
Quá trình mượn xe mô tô của anh Võ Sỹ N, vì gặp vấn đề khó khăn trong tiền bạc nên B đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô này. Đến khoảng ngày 10/6/2024, B đã liên hệ với Nguyễn Dương A để hỏi vay mượn số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) và để lại xe mô tô đã mượn của anh N làm tin. Giữa B và anh A thỏa thuận trong thời gian 10 ngày sẽ đến trả tiền và nhận lại xe mô tô này. Sau khi vay mượn tiền từ anh A, B đã sử dụng số tiền này để tiêu xài cá nhân. Đến khoảng ngày 12/6/2024, anh N liên lạc với B để hỏi về xe mô tô nói trên và yêu cầu B trả lại xe cho anh N, thì B đã nói dối anh N là B đang sử dụng xe mô tô này nhưng thực chất B đã đi vay mượn tiền và sử dụng xe mô tô này để làm tin.
Do quá thời gian thỏa thuận B chưa trả tiền và chưa đến nhận lại xe mô tô nên anh A đã gặp B để nhắc nhở về việc trả nợ tiền cho anh A. Tuy nhiên, B không có khả năng để trả tiền cho anh A nên anh A đã bán lại xe mô tô trên cho anh Nguyễn Văn D với số tiền 4.300.000 đồng. Đến ngày 10/7/2024, anh D đã bán lại xe mô tô nói trên cho anh Trần Xuân T với số tiền 5.700.000 đồng.
(2) Tại Bản kết luận định giá tài sản số 2459/KL-HĐĐGTS ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: Trị giá tài sản 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER; Biển kiểm soát: 74D1-109.81; màu sơn: trắng đen, số máy: 1S9A052980, số khung: S9A0DY052994, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong, tại thời điểm bị chiếm đoạt là: 10.000.000 đồng (Mười triệu) đồng.
(3) Tại bản Cáo trạng số 165/CT-VKS-ĐH ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc B về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
(4) Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc B từ 12 đến 15 tháng tù.
Bị cáo nói lời sau cùng: Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Trong đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng đã thể hiện đủ cơ sở kết luận: Ngày 05/6/2024, Nguyễn Quốc B sau khi mượn xe mô tô nhãn hiệu xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER; Biển kiểm soát: 74D1-109.81 đã qua sử dụng của anh Võ Sỹ N đã nảy sinh ý định chiếm đoạt và dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt chiếc xe mô tô trên. Trị giá tài sản tại thời điểm mà Nguyễn Quốc B đã chiếm đoạt là 10.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự, điều luật quy định khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an địa phương và tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân. Bản thân bị cáo nhân thân xấu, ngày 02/02/2021, bị Công an huyện B, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép” nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nhưng phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe và giáo dục.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Võ Sỹ N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì về dân sự.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Dương A, Nguyễn Văn D và Trần Xuân T không có yêu cầu về mặt dân sự.
Trong vụ án này các anh Nguyễn Dương A, Nguyễn Văn D và Trần Xuân T là những người mua bán xe mô tô biển kiểm soát 74D1- 109.81 nhưng không biết xe đó do người khác phạm tội mà mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”,
- Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Quốc B 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/9/2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí, xử: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Yến |
Bản án số 163/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 163/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Bình lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
