|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 16/2025/HS-ST
Ngày 26/03/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trọng Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Thái và bà Trịnh Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 03 năm 2025 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 03 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh đối với bị cáo:
Lê Trương T; sinh ngày 10/02/1993; giới tính: Nam; nơi sinh: xã Y, huyện Y, tỉnh T; nơi cư trú: Thôn, xã Y, huyện Y, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trương H, sinh năm 1969 và bà Lê Thị C, sinh năm 1969; vợ: Đinh Thị T, sinh năm 1992; con: Có 3 con (đứa lớn sinh năm 2016, đứa nhỏ sinh năm 2025); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Tạm hoãn xuất nhập cảnh từ ngày 12/12/2024 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Anh Đoàn Trọng T, sinh ngày 23/03/1992 (đã chết).
+ Người đại diện hợp pháp của bị hại Đoàn Trọng T: Chị Lê Thị Kim O, sinh năm 1998 (vợ của bị hại); địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện Y, tỉnh T; nghề nghiệp: Công nhân. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Lê Văn H; sinh năm 1993; địa chỉ: tổ 12, Ấp 4, xã L, huyện L, tỉnh Đ; vắng mặt.
- + Anh Lê Khắc B; sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện H, tỉnh H; vắng mặt.
- + Bà Lê Thị H; sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh H; có mặt.
- + Chị Đinh Thị T; sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện H, tỉnh; có mặt.
- + Anh Nguyễn Văn M; sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 03/10/2024, Lê Trương T cùng với anh Đoàn Trọng T, anh Lê Văn H và anh Lê Khắc B ăn tối và uống rượu tại trại gà ở thôn 3, xã P, huyện H, tỉnh H.
Đến khoảng 00 giờ 05 phút ngày 04/10/2024, sau khi ăn uống xong, anh Đoàn Trọng T nhờ Lê Trương T chở về phòng trọ của mình ở thị trấn H, thì T đồng ý. Mặc dù không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng Lê Trương T vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B3-595.92 chở anh T đi từ trại gà ở thôn 3, xã P theo đường Quốc lộ 15, sau đó đi sang đường Hồ Chí Minh để đi thị trấn H. Khi đi đến Km 819+300 đường Hồ Chí Minh đoạn thuộc thôn B, xã H, huyện H, tỉnh H, là đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên (biển W.207b) nhưng T không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn dẫn đến không làm chủ tay lái nên đã điều khiển xe mô tô đi lên lề đường bên phải theo hướng lưu thông, rồi lao xe xuống mương thoát nước bên phải đường Hồ Chí Minh, làm cho T và anh T bị ngã xuống mương thoát nước. Hậu quả, anh Đoàn Trọng T bị đập đầu vào tảng đá ở bờ mương thoát nước dẫn đến tử vong tại chỗ, Lê Trương T bị thương được người dân đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, cấp cứu, điều trị đến ngày 14/10/2024, sức khoẻ ổn định, ra viện.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ được xác định tại Km 819+300 đường Hồ Chí Minh. Đường hai chiều, rộng 6,75m, giữa tâm đường có vạch kẻ sơn nét đứt, màu vàng, chia đường thành hai làn xe chạy ngược chiều, hai bên mép đường có vạch kẻ sơn nét liền màu trắng. Tại hiện trường phát hiện và ghi nhận các dấu vết: Vết bánh xe trên mặt đất và cỏ (đánh số 01); Vết cày xới, rạp cỏ trên mặt đất (đánh số 02); Vùng mảnh vỡ nhựa (đánh số 03); Vết cày xới trên mặt đất (đánh số 04); Xe mô tô biển kiểm soát 36B3-595.92 (đánh số 05) và tử thi anh Đoàn Trọng T (đánh số 6).
Vị trí số 1 là vết bánh xe trên mặt đất và cỏ: Từ mốc cố định đo về hướng Nam 88,75m là đầu vết bánh xe, nơi rộng nhất 5cm, dài 17m, chiều hướng xã Hương Bình đi thị trấn Hương Khê, điểm cuối vết bánh xe cách mép chuẩn 2,1m. Đầu vết số 1 đo theo hướng Nam đến biển W.207b là 4,8m.
Vị trí số 2 là vết cày xới, rạp cỏ trên mặt đất: Điểm cuối vết bánh xe trùng với đầu vết cày xới, rạp cỏ trên mặt đất. Vết số 2 nơi rộng nhất 40cm, dài 16,2m, nơi sâu nhất 5cm, chiều hướng từ tâm đường ra lòng mương bên phải hướng xã Hương Bình đi thị trấn Hương Khê. Cuối vết số 02 trùng trên mép đường ngõ vào cổng nhà bà Lê Thị H, thôn B, xã H. Đường ngõ nhà bà H làm bằng bê tông, rộng 2,8m, trụ cổng cách mép chuẩn 5,65m, cuối vết số 02 cách mép chuẩn 4,27m. Tại vị trí bờ mương bên phải hướng xã H đi thị trấn H, cách mép cổng bên phải 35cm hướng nhìn từ ngoài vào có 01 mô đất nhô ra, kích thước 30cm x 93cm x 110cm; trên bề mặt mô đất bị cày xới kích thước 5cm x 86cm x 105 cm. Tại vị trí bờ mương bên trái hướng xã Hương Bình đi thị trấn Hương Khê, cách mép cổng bên phải 45cm hướng nhìn từ ngoài vào (đối diện với mô đất) có 01 tảng đá nhô ra khỏi bờ mương, tảng đá có kích thước 9cm x15cm x 26cm. Tại vị trí cách tảng đá về hướng bờ mương bên phải hướng xã Hương Bình đi thị trấn Hương Khê có 01 thân cây đường kính 9cm, dài 1,65m, thân cây nằm dọc theo bờ mương bên phải. Tình trạng thân cây đã bị gãy lìa thành 2 đoạn, trên thân cây có vết trầy xước vỏ cây, dấu vết còn mới.
Vị trí số 3 là vùng mảnh vỡ nhựa: Từ điểm cuối vết đánh số 02 trên hiện trường đo về hướng Nam 1,2m là tâm vùng mảnh vỡ nhựa. Vùng mảnh vỡ nhựa có kích thước 4m x 3,8m, gồm nhiều mảnh vỡ nhựa có kích thước khác nhau, trong đó mảnh vỡ lớn nhất có kích thước 13m x 52cm, tâm vùng mảnh vỡ cách mép chuẩn 4,55m.
Vị trí số 4 là vết cày xới trên mặt đất: Từ tâm dấu vết đánh số 3 đo về hướng Nam 1,75m là đầu vết cày xới trên mặt đất. Vết cày xới trên mặt đất nơi rộng nhất 0,4m, dài 4 m, nơi sâu nhất là 4cm, chiều hướng xã Hương Bình đi thị trấn Hương Khê. Đầu vết cày xới đất cách mép chuẩn 4,7m, cuối vết cày cách mép chuẩn 4,8m.
Vị trí số 5 là xe mô tô biển kiểm soát 36B3-595.92: Từ cuối vết cày xới trên mặt đất đo về hướng Nam 3,0m là tâm trục sau xe mô tô biển kiểm soát 36B3-595.92. Xe nằm nghiêng phải, ở dưới mương thoát nước, đầu xe hướng thị trấn Hương Khê, đuôi xe hướng xã Hương Bình. Tâm trục sau xe mô tô cách tâm trục trước xe mô tô 1,1m, tâm trục sau xe mô tô cách mép chuẩn 3,9m, tâm trục trước xe mô tô cách mép chuẩn 4,65m, bị biến dạng phần đầu xe, đèn chiếu sáng phía trước đang được bật sáng.
Vị trí số 6 là tử thi, xác định là anh Đoàn Trọng T, sinh năm 1992, trú tại thôn Y, xã Đ, huyện Y, tỉnh T: Từ tâm trục sau xe mô tô biển kiểm soát 36B3-595.92 đo về hướng Nam 1,0m là đầu tử thi anh Đoàn Trọng T. Tử thi tư thế nằm nghiêng bên trái, dưới mương thoát nước, đầu hướng về xã Hương Bình, chân hướng về thị trấn Hương Khê, hai chân co, đầu tử thi cách mép chuẩn 4,4m, chân phải tử thi cách mép chuẩn 4,5m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện đối với xe mô tô biển kiểm soát 36B3-595.92 xác định: Hệ thống trục xe phía trước bị xô lệch hoàn toàn khỏi vị trí ban đầu theo chiều hướng từ trái qua phải, từ trước ra sau. Ốp nhựa tay lái bị bung chốt định vị, bề mặt bám dính nhiều đất đá. Cung sau chắn bùn bánh trước bị bung rời hoàn toàn khỏi phương tiện, bề mặt bám dính nhiều đất, cây cỏ. Cung trước chắn bùn bánh trước có dấu vết vỡ nhựa bề mặt có dấu vết trượt xước, mất sơn bám dính chất màu trắng, đất đá kích thước 20cm x13cm, tâm dấu vết cách mặt đất 50cm chiều hướng từ phải qua trái. Giảm xóc bên phải phía trước bung chốt định vị. Giảm xóc bên trái phía trước gãy vỡ kích thước 6cm x 10cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 32cm. Cánh yếm bên trái bị bung rời hoàn toàn hỏi phương tiện, bề mặt bám dính nhiều đất đá. Tay lái bên trái, tay lái bên phải, bánh trước, hệ thống phía dưới xe, bánh sau, ống xả bám dính nhiều đất đá. Mặt ngoài giá để chân phía trước bên trái có dấu vết trượt xước, mài mòn kim loại, cao su bám dính nhiều đất đá, cỏ cây kích thước 3cm x 3cm. Mặt bên trái chân chống giữa có dấu vết trượt, mài kim loại, bề mặt bám dính nhiều đất đá kích thước 1,2cm x 1,2cm. Xe mô tô đã hư hỏng không kiểm tra được hệ thống kỹ thuật an toàn.
- Bản Kết luận giám định số 1212/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: Nguyên nhân chết của anh Đoàn Trọng T là chấn thương sọ não; Chấn thương vùng đầu gây vỡ xương hộp sọ là nguyên nhân chính dẫn đến anh T tử vong.
- Bản Kết luận giám định số 1231/KL-KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36B3-595.92 với phương tiện nào khác; Dấu vết xô lệch theo chiều hướng từ trái qua phải, từ trước ra sau tại hệ thống trụ xe phía trước hình thành do va chạm với tảng đá và thân cây bị gãy (đánh dấu vị trí số 4) tại hiện trường.
- Bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐG ngày 02/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thuộc UBND huyện Hương Khê, kết luận: Phần hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 36B3-595.92 trị giá 600.000 đồng.
- Kết quả xác định nồng độ cồn: Trong hơi thở của Lê Trương T tại thời điểm đo ngày 04/10/2024 là 0,205 mg/L khí thở. Kết quả xác định nồng độ cồn trong máu của anh Đoàn Trọng T tại thời điểm đo ngày 04/10/2024 là 157,8 mg/dl.
Về vật chứng thu giữ và xử lý:
- - 01 xe mô tô Sirius màu trắng đen, nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 36B3-595.92, số khung RLCS5C6K0DY142531, số máy 5C6K142541;
- - 01 áo phông cổ tròn, màu hồng, có nhiều hoa văn khác nhau, trên cổ áo có ghi dòng chữ made in Việt Nam.
- - 01 áo khoác màu đen, cỡ L, có mũ trùm gắn theo áo, phía trước bên trái có dòng chữ “yody”, mặt trong cổ áo có dòng chữ “yody look good feel good L", phía sau có vệt phản quang màu trắng, kích thước 18cm x 0,6cm.
Quá trình điều tra, xác định: Xe mô tô biển kiểm soát 36B3-595.92 được Công an tỉnh Thanh Hóa đăng ký chủ sở hữu là Lê Trương T vào ngày 11/02/2014. Sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hương Khê đã trả lại chiếc xe nói trên cho chủ sở hữu là Lê Trương T.
Vật chứng thu giữ còn lại (02 chiếc áo) hiện chưa xử lý, được chuyển đến kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê đê xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 24/11/2024, bị can Lê Trương T đã tự nguyện bồi thường chi phí mai táng và tổn thất về tinh thần cho gia đình bị hại Đoàn Trọng T với số tiền 20.000.000 đồng. Hiện đại diện gia đình người bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị can Lê Trương T.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-HK ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Lê Trương T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo qui định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Trương T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260 BLHS; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày đi thi hành án; xử lý vật chứng và nộp án phí theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, xin giảm nhẹ hình phạtvà không có khiếu nại gì. Người đại diện của gia đình bị hại có đơn xin vắng mặt tại phiên toà, không có yêu cầu bồi thường thêm về dân sự và có đề nghị giảm nhẹ hình phạt với mức thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Trương T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan trong vụ tai nạn, Biên bản khám nghiệm tử thi, các biên bản điều tra là phù hợp,
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 04/10/2024, tại Km 819+300 đường Hồ Chí Minh thuộc địa phân thôn B, xã H, huyện H, tỉnh H, Lê Trương T, không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B3-595.92, trong tình trạng có sử dụng rượu (0,205 mg/L khí thở), chở anh Đoàn Trọng T đi từ trại gà ở thôn 3, xã P, huyện H về thị trấn H, do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi qua đoạn đường có cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên dẫn đến không làm chủ được tay lái nên xe mô tô do T điều khiển đã đi sang lề đường bên phải theo hướng lưu thông, lao xe xuống mương thoát nước bên phải đường. Hậu quả, Anh Đoàn Trọng T ngồi sau bị ngã, chấn thương sọ não tử vong tại hiện trưởng.
[3] Hành vi của bị cáo gây ra, do quá trình điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ, bị cáo Lê Trương T mặc dù nhận thức được không có giấy phép lái xe, sau khi uống rượu, bia không được điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ, nhưng do ý thức chủ quan, chưa chấp hành đầy đủ các quy định của Luật giao thông đường bộ, dẫn đến không tuân thủ đúng các quy định về quy tắc giao thông khi gặp biển báo hiệu nguy hiểm trên đường là nguyên nhân chính dẫn đến hành vi phạm tội, gây hậu quả làm chết 1 người đã vi phạm quuy định tại khoản 8, 9 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, “Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”, “Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định” và Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31 quy định: Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: “1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chưởng ngại vật trên đường”; Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải xét xử nghiêm để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tiền án, tiền sự không. Sau khi xẩy ra tại nạn bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường đầy đủ thiệt hại cho đại diện hợp pháp của gia đình bị hại, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; quả trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, hiện đang nuôi con nhỏ. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Xét về tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, được gia đình bị hại xin bãi nại, xin giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo, thiếu kinh nghiệm trong xử lý tình huống, không quan sát kỹ biển báo đoạn đường nguy hiểm. Ngoài ra, một phần nguyên nhân do bị hại khi nhờ bị cáo T chở về phòng trọ biết T trong tình trạng uống rượu, bia, không tìm hiểu bị cáo T có giấy phép lai xe hay không nên mới xẩy ra tai nạn. Do đó hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hướng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt liền kề của điều luật là phù hợp.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các điều, khoản, điểm tội danh, hình phạt; hình phạt bổ sung; án phí là có căn cứ, tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên HĐXX thống nhất áp dụng mức hình phạt dưới khung liền kề nhẹ hơn cũng đảm bảo đúng quy định.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.
[9] Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B3-595.92 được Công an tỉnh Thanh Hóa đăng ký chủ sở hữu là Lê Trương T vào ngày 11/02/2014. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hương Khê đã trả lại chiếc xe nói trên cho chủ sở hữu là Lê Trương T là đúng quy định của pháp luật được quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, nên miễn xét.
Đối với 01 áo phông cổ tròn, màu hồng, có nhiều hoa văn khác nhau, trên cổ áo có ghi dòng chữ ma de in Việt Nam; 01 áo khoác màu đen, cỡ L, có mũ trùm gắn theo áo, phía trước bên trái có dòng chữ “yody”, mặt trong cổ áo có dòng chữ "yody look good feel good L", phía sau có vệt phản quang màu trắng, kích thước 18cm x 0,6cm là những vật chứng không còn giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trương T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Trương T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ 01 áo khoác màu đen, cỡ L, có mũ trùm gắn theo áo, ngang phần ngực bên trái có dòng chữ “yody”, mặt trong cổ áo có dòng chữ “yody look good feel good L", phía sau lưng có vệt phản quang màu trắng, kích thước 18cm x 0,6cm; 01 áo phong cố tròn, màu hồng có nhiều hoa văn khác nhau trên cố áo ghi dòng chữ Ma de in Việt Nam (Tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao nhân vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Trọng Hùng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
|
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
|
Lê Hữu Thái |
Trịnh Thị Hà |
Lê Trọng Hùng |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN LÊ TRƯƠNG TUẤN VI PHẠM GIAO THÔNG
