|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 151/2024/HS-ST
Ngày: 19-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thoại,
- Bà Võ Thị Hoa Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: D L, thành phố Đ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2024/HSST ngày 26/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Quốc T
(Tên gọi khác: Cu B), sinh năm 1987 tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Phụ lò mỳ; Con ông Lê Văn T1 (Đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1959; Gia đình có 08 anh em, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có.
Tiền sự: Không;
Tiền án: Có 03 tiền án:
- Tại bản án số 36/2014/HSST ngày 21/4/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt: Lê Quốc T 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 11/9/2015, T2 hành xong án phạt tù.
- Tại bản án số 01/2018/HS-ST ngày 19/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, xử phạt: Lê Quốc T 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 05/02/2020, T2 hành xong án phạt tù.
- Tại bản án số 52/2022/HS-ST ngày 13/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt: Lê Quốc T 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/6/2023, T2 hành xong án phạt tù.
Nhân thân: Ngày 09/11/2005, bị Công an P thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.
2. Phan T2
(Tên gọi khác: B1), sinh năm 1991, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: P (Đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1960; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con út; Vợ, con: Chưa có.
Tiền sự: Không; Tiền án: Có 04 tiền án:
- Tại bản án số 15/2018/HSST ngày 11/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, xử phạt: Phan Tịnh 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Tại bản án số 06/2019/HSST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, xử phạt: Phan T2 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 29/4/2020, T2 chấp hành xong án phạt tù;
- Tại bản án số 09/2021/HSST ngày 29/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt: Phan T2 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 01/10/2021, T2 chấp hành xong án phạt tù;
- Tại bản án số 69/2022/HSST ngày 19/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt: Phan T2 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 28/01/2023, T2 chấp hành xong án phạt tù;
Nhân thân:
- Ngày 27/6/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 01/11/2017, bị Công an phường Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, có mặt tại phiên tòa.
3. Đỗ Khắc H
(Tên gọi khác: Cu C), sinh năm 1989, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Bốc vác; Con ông Đỗ Khắc B1 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị S(Đã chết); Gia đình bị can có 05 anh chị em, bị can là con út; Vợ: Lê Thị K T3 sinh năm 1988 (Đã ly hôn); Con: Có 01 người con, sinh năm 2015.
Tiền sự, Tiền án: Không.
Nhân thân:
- Ngày 12/7/2018, bị Công an phường Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 17/9/2018, bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng.
- Ngày 23/9/2024, bị Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Chị Lê Thị T4 sinh năm 1991; địa chỉ: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Ông Lê Văn T3 năm 1970; Nơi ĐKTT: Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tỉnh Nơi ở hiện tại: Đường Y, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Thị L1 sinh năm 1969; địa chỉ: Khu phố H, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Ông Trương S1 sinh năm 1956; Khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Bà Lê Thị L1 chỉ: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
(1). Trong khoảng thời gian tháng 4 và tháng 5 năm 2024, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân, Đỗ Khắc H1 cùng Phan T2 và Lê Quốc T4 hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đ sau:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 17/4/2024, P T2 điều khiển xe mô tô hiệu FUSIN biển kiểm soát: 74G1-145.33, màu nâu (tài sản của bà Lê Thị L2 của T2 lưu thông trên đường H T2 đi đến khu vực ngã tư đường H - L thì gặp Đ tìm kiếm tài sản để trộm cắp thì H2 ý. T2 chở H đi đến khu vực ngã tư đường N - L thì T2 phát hiện ở khu vực đầu kiệt 251 đường L (bên cạnh quán O có một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh dương, biển kiểm soát: 74C1- 422.40, tại vị trí gác baga xe có để một túi nilon màu trong suốt bên trong chứa 60 gói Xyliton (loại 1 gói có 55 viên), 10 gói kẹo chanh muối và 10 gói kẹo BUPUP (vị cam – dâu – nho), không có người trông coi (tài sản thuộc sở hữu của chị Lê Thị T5, thời điểm này chị T4 đang ở trong quán O để ăn sáng). T2 bàn bạc với H3 trộm túi kẹo này đem đi bán lấy tiền tiêu xài thì H2 ý. T2 điều khiển xe mô tô chở H4 trong kiệt B đường L dừng cách xe mô tô của chị T4 khoảng 02 mét, sau đó T2 ngồi trên xe mô tô để cảnh giới còn H lén lút tiếp cận xe mô tô rồi lấy túi kẹo. Sau khi lấy được tài sản cả hai đi tìm nơi tiêu thụ. Khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, T2 và H đến cửa hàng tạp hóa “Dì L1 ở địa chỉ số D đường Q bán cho bà Bùi Thị L3 (là chủ cửa hàng) 10 gói Xyliton (loại 1 gói có 55 viên), 04 gói kẹo chanh muối và 10 gói kẹo BUPUP (vị cam – dâu – nho) với giá 300.000 đồng.
Sau đó, T2 và H tiếp tục đưa số kẹo còn lại đi tiêu thụ. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến khu vực đường L, T2 và H đã gặp và bán 50 gói kẹo X và 06 gói kẹo chanh muối cho một người phụ nữ đi đường, đeo khẩu trang (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 200.000 đồng. Số tiền có được T2 và H đã cùng nhau tiêu xài hết. Sau khi bà L1 mua được các gói kẹo từ T2 và H bà L1 đã bán hết cho những người khách đi đường (không rõ nhân thân, lai lịch).
Tại kết luận định giá tài sản số 1686/KL-HĐĐGTS ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: Trị giá của 60 gói Xyliton (loại 1 gói có 55 viên), 10 gói kẹo chanh muối và 10 gói kẹo BUPUP (vị cam – dâu – nho) (các tài sản trên đều còn hạn sử dụng, không thu giữ được) tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.670.000 đồng.
- Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/5/2024, Lê Quốc T6 bộ đến phòng trọ của Đỗ Khắc H5 đường T thành phố Đ) chơi. Tại đây H rủ T đi trộm cắp tài sản thì T7 ý. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, T8 khiển xe mô tô hiệu DAEHAN, biển kiểm soát: 74K8 – 3078 (là tài sản của anh Lương Thanh T9) chở theo H đến đường L thành phố Đ. T và H thấy đoạn đường này đang thi công và ở khu vực phía bên trái lề đường theo hướng đường T đi đường Q tường rào của Công ty Cổ phần X (địa chỉ số B Quốc lộ I, thành phố Đ các tấm kim loại làm khuôn đúc bê tông, hình chữ nhật, kích thước: dài 02 mét, rộng 0,6 mét (là tài sản của ông Lê Văn T10) không có người trông coi, xung quanh vắng người nên H và T cùng nhau lén lút lấy 02 tấm kim loại, đưa lên xe mô tô, H6 sau giữ 02 tấm kim loại trên còn T điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để tiêu thụ. Khoảng 12 giờ 30 phút H và T đã đến cơ sở buôn bán phế liệu tại địa chỉ số H đường N thành phố Đ bán 02 tấm kim loại trên cho ông Trương S1 (là chủ cơ sở) với giá 370.000 đồng. Số tiền có được, T và H1 cùng nhau tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, trong khi ông S1 đi ra ngoài thì bà Nguyễn Thị D (vợ ông S1 đã bán 02 tấm kim loại trên cho 01 người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch.
Tại kết luận định giá tài sản số 1234/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: Trị giá của 02 tấm kim loại hình chữ nhật, bằng kim loại làm khuôn đúc bê tông, kích thước 200cm x 60 cm, tài sản không thu giữ được, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.700.000 đồng.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Quốc T từ 24 đến 26 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phan T2 từ 14 đến 16 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đỗ Khắc H từ 14 đến 16 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 585, 587 Bộ luật dân sự, buộc các bị cáo Phan T2 và Đỗ Khắc H7 bị cáo bồi thường cho chị T4 số tiền 1.335.000 đồng.
Buộc các bị cáo Lê Quốc T11 Đỗ Khắc H mỗi bị cáo bồi thường cho ông Lê Văn T12 tiền 1.350.000 đồng.
Bị cáo nói lời sau cùng:
- Bị cáo Lê Quốc T: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về.
- Bị cáo P1: Trong những ngày bị tạm giam bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình.
- Bị cáo Đỗ Khắc H: Bị cáo đã vi phạm pháp luật, bị cáo xin hứa sau này không còn trộm cắp tài sản, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Trong đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng đã thể hiện đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 17/4/2024, Đỗ Khắc H và Phan T2 đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Lê Thị T5 gồm 60 gói Xyliton, 10 gói kẹo chanh muối và 10 gói kẹo BUPUP trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 2.670.000 đồng. Ngày 08/5/2024, Đỗ Khắc H8 tục cùng Lê Quốc T4 hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Lê Văn T10 gồm các tấm kim loại làm khuôn đúc bê tông, trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 2.700.000 đồng.
Lê Quốc T là người đang có 03 tiền án, chưa được xóa án tích và tại Bản án số 52/2022/HS-ST ngày 13/5/2022 của TAND thành phố Đông Hà, T đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”. Vì vậy hành vi của Lê Quốc T13 thành tội “Trộm cắp tài sản” theo tình tiết tăng nặng định khung là “Tái phạm nguy hiểm” tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, điều luật quy định khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Hành vi của Phan T14 và Đỗ Khắc H9 thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, điều luật điều luật quy định khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân và làm mất trật tự trị an trên địa bàn, do đó, cần xử phạt các bị cáo nghiêm khắc. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phan T2 có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có trị giá tài sản là 2.670.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đỗ Khắc H10 lần thực hiện hành vi pham tội đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đối với Phan T14 là người không có nghề nghiệp, ngoài lần phạm tội này T2 có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng trong thời gian từ khi chấp hành án xong, T2 sống cùng mẹ là bà Lê Thị L và được bà L nuôi dưỡng, thanh toán mọi chi phí sinh hoạt, số tiền T2 có được từ việc trộm cắp tài sản, T2 chỉ sử dụng cho mục đích cá nhân, T2 không lấy tài sản trộm cắp được làm nguồn sống chính. Do đó không áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” đối với T2.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo TT2H đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo Lê Quốc T15 hộ cận nghèo. Gia đình bị cáo Phan T2 thuộc hộ nghèo nên các bị cáo T11 T2 được áp dụng tình tiết giảm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về vai trò, mức độ thực hiện hành vi phạm tội:
- Vụ thứ nhất: Bị cáo T2 là người khởi xướng, rủ H trộm cắp tài sản, T2 lấy xe chở H đến địa điểm trộm cắp, T2 ngồi trên xe cảnh giới, H trực tiếp vào lấy tài sản, cả hai đưa tài sản đi bán, giá trị tài sản chiếm đoạt là 2.670.000 đồng.
- Vụ thứ hai: Bị cáo H là người khởi xướng, rủ T trộm cắp tài sản, T và H cùng lấy tài sản và cả hai đưa tài sản trộm cắp đi bán, giá trị tài sản chiếm đoạt là 2.700.000 đồng.
Xét nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo T16 nhân thân xấu, đang có 03 tiền án, trong đó đã hai lần bị xử phạt tù về tội "Trộm cắp tài sản" do đó cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt. Đối với bị cáo Phan T2 có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, bị cáo H thực hiện 2 lần với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 5.370.000 đồng. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo T2 và H mức hình phạt ngang nhau.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Chị Lê Thị T17 cầu các bị cáo Phan T2 và Đỗ Khắc H11 thường 2.670.000 đồng. Buộc các bị cáo T2 và T4 mỗi bị cáo bồi thường cho chị T4 số tiền 1.335.000 đồng
Ông L6 cầu các bị cáo Lê Quốc T11 Đỗ Khắc H bồi thường 2.700.000 đồng. Buộc các bị cáo T11 H mỗi bị cáo bồi thường cho ông T5 số tiền 1.350.000 đồng.
[5] Về vật chứng và tài sản tạm giữ:
Quá trình điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu FUSIN, màu nâu, biển kiểm soát 74G1 - 145.33 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009770 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Lê Thị L
Đối với ông Trương S1, bà Bùi Thị L4 những người đã mua tài sản do L7 cắp được nhưng không biết những tài sản trên do TT2 và H phạm tội mà có nên không xem xét trách nhiệm.
Đối với bà Lê Thị L5 anh Lương T18 T6 là những người cho T2 và H mượn xe mô tô nhưng không biết T2 và H sử dụng các xe để đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ để xử lý.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Lê Quốc T, tên gọi khác: Cu B; P, tên gọi khác: B1; Đỗ Khắc H, tên gọi khác: Cu C phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Quốc T 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/7/2024
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt P1 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/7/2024
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt Đỗ Khắc H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/7/2024
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585; 587 Bộ luật dân sự:
Buộc các bị cáo Phan T2 và Đỗ Khắc H7 bị cáo bồi thường cho chị Lê Thị T19 tiền 1.335.000 (một triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn) đồng.
Buộc các bị cáo Lê Quốc T11 Đỗ Khắc H mỗi bị cáo bồi thường cho ông Lê Văn T12 tiền 1.350.000 (một triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí, xử:
Buộc các bị cáo Lê Q, Phan T2 Đỗ Khắc H12 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Yến |
Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 151/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Quốc tâm cùng đồng phạm TCTS
