Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 148/2024/HS-ST

Ngày: 29-10-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Tuấn Tú và bà Lê Thị Thanh Nhàn.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị Tuyết N, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 22/5/1986, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Số F N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: Số A P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Kim T, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Đặng Thị L, sinh năm 1964; có chồng: Trần Minh Đ, sinh năm 1979 (đã ly hôn); con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Chị Trần Thị Thùy T1, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A P, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quen biết nhau từ trước. Vào tháng 9 năm 2022, Trần Thị Tuyết N đến tiệm tiệm Spa của chị Trần Thị Thùy T1, sinh năm 1988, ở địa chỉ: số E T, phường L, thành phố B để làm đẹp thì chị T1 đã hỏi N về việc xin đầu tư đất chung cùng với N. Lúc này, do làm ăn thua lỗ và đang nợ tiền nhiều người nên khi nghe chị T1 nói vậy thì N đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị T1. Thực hiện ý định, N nói với chị T1 là đang đặt cọc 04 lô đất ở gần trường T, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng với số tiền 2.200.000.000₫ (hai tỷ hai trăm triệu đồng), sẽ đặt cọc trước số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng), khi có khách trả hơn thì bán thu lợi nhuận và nói với chị T1 có bao nhiêu tiền chuyển cho N bấy nhiêu để đặt cọc. Sau đó N lấy các hình ảnh, thông tin các thửa đất trên các nhóm mạng Zalo của những người buôn bán bất động sản để gửi cho chị T1. Do tin tưởng nên chị T1 chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng cho N 03 lần với tổng số tiền 87.500.000 đồng (tám mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) nhằm mục đích để đầu tư mua chung 04 thửa đất số 402, 403, 404 và thửa đất số 405, tờ bản đồ số 33, tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, cùng với N. Cụ thể như sau:

  • - Ngày 01/10/2022, chị T1 sử dụng số tài khoản số 0000578649482 mở tại Ngân hàng Q (MB) chuyển số tiền 33.000.000₫ (ba mươi ba triệu đồng), nội dung chuyển tiền: “tien coc mua dat chung” vào số tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng S cho Trần Thị Tuyết N
  • - Ngày 03/10/2022, chị T1 sử dụng tài khoản Ngân hàng V số 0531002492210 chuyển tiền vào tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng S số tiền 28.500.000 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng), nội dung chuyển tiền: “ck tien hun mua dat” cho Trần Thị Tuyết N
  • - Ngày 05/10/2022, chị T1 sử dụng tài khoản Ngân hàng Q (M) số 0000578649482 chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng S 050136731227 số tiền 26.000.000đ (hai mươi sáu triệu đồng), nội dung chuyển tiền: “T1 ck tien lam so" cho Trần Thị Tuyết N.

Để tiếp tục chiếm đoạt tiền của chị T1. N nói dối với chị T1 góp tiền để cùng mua chung thửa đất ở đường Q, thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, chị T1 chuyển khoản cho N 04 lần với tổng số tiền 99.900.000 đồng (chín mươi chín triệu chín trăm nghìn đồng). Cụ thể các lần chuyển tiền qua tài khoản như sau:

  • - Ngày 07/10/2022, chị T1 sử dụng tài khoản số 0531002492210 mở tại Ngân hàng V chuyển 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng) vào tài khoản Ngân hàng S số [...] cho Trần Thị Tuyết N, nội dung chuyển tiền: “ck tien hun mua nha voi c N".
  • - Ngày 09/10/2022, chị T1 sử dụng tài khoản số 0531002492210 mở tại Ngân hàng V chuyển 40.000.000₫ (bốn mươi triệu đồng) vào tài khoản số số [...] mở tại ngân hàng S cho Trần Thị Tuyết N, nội dung chuyển tiền: “ck chi N".
  • - Ngày 10/10/2022, chị T1 sử dụng tài khoản Ngân hàng V số 0531002492210 chuyển 27.900.000đ (hai mươi bảy triệu chín trăm nghìn đồng), nội dung chuyển tiền: “ck chi N hun dat” vào tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng S cho Trần Thị Tuyết N
  • - Ngày 10/10/2022, chị T1 sử dụng tài khoản Ngân hàng V số 0531002492210 chuyển 2.000.000đ (hai triệu đồng), nội dung chuyển tiền: “ck tien ddat cho c nga” vào tài khoản Ngân hàng S 050136731227 cho Trần Thị Tuyết N.

Sau khi nhận được tổng số tiền 187.400.000 từ chị T1, N không thực hiện việc đầu tư mua đất như đã thỏa thuận với chị T1 mà sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân hết. Ngoài ra, chị T1 còn cho N vay số tiền 92.600.000đ. Đến ngày 19/6/2023 N viết giấy cam kết nhận tiền với nội dung N mượn của chị T1 tổng số tiền 280.000.000 đồng và cam kết mỗi tháng sẽ trả cho chị T1 số tiền 15.000.000 đồng đến khi trả hết nợ. Tuy nhiên, N chỉ trả cho chị T1 được số tiền 3.600.000 đồng. Do nhiều lần đòi tiền nhưng N không trả nên đến ngày 06/9/2023 chị T1 đã đến trình báo cơ quan đến Công an.

Tại bản kết luận giám định số 184/KL ngày 06/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

  • - Chữ ký, chữ viết ghi họ tên Trần Thị Thanh N1 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết của Trần Thị Tuyết N trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1.M2 là do cùng một người ký và viết ra.
  • - Chữ ký, chữ viết ghi họ tên Trần Thị Tuyết N trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết của Trần Thị Tuyết N trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là do cùng một người ký và viết ra.

Kết quả làm việc với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Lâm Đồng xác định như sau:

  • -Đối với thửa đất số 331 (không rõ tờ bản đồ), địa chỉ: đường Q, thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, qua rà soát không xác định được thửa đất có thông tin như trên.
  • -Đối với thửa đất số 402, 403, 404, 405 (không rõ tờ bản đồ), địa chỉ: gần trường học T, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, qua rà soát ghi nhận có 08 thửa đất có vị trí, đặc điểm và thông tin giống với các thửa đất bị cáo N đưa ra thông tin để chị T1 đầu tư chung, cụ thể như sau:
  • + Thửa đất số 402, tờ bản đồ số 33, địa chỉ: xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, chủ sử dụng đất: bà Nguyễn Thu H, CCCD số: 02518209636, địa chỉ: số A đường số H, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, thời gian nhận chuyển nhượng từ ngày 27/5/2022 đến nay.
  • + Thửa đất số 403, tờ bản đồ số 33, địa chỉ: xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, chủ sử dụng đất: bà Bùi Nữ Ly L1, CCCD số: [...], địa chỉ: số nhà A đường Đ, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, thời gian nhận chuyển nhượng từ ngày 11/02/2022 đến nay.
  • + Thửa đất số 404, tờ bản đồ số 33, địa chỉ: xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, chủ sử dụng đất: bà Thân Xuân H1, CCCD số: [...], địa chỉ: thửa đất 1454, tờ bản đồ số 12. Đường N, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, thời gian nhận chuyển nhượng từ ngày 11/02/2022 đến nay.
  • + Thửa đất số 405, tờ bản đồ số 33, địa chỉ: xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, chủ sử dụng đất: ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1982, CMND số: [...], địa chỉ: phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, ngày 08/07/2021 được Sở T5 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay.
  • + Thửa đất số 402, tờ bản đồ số 34, địa chỉ: xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, chủ sử dụng đất: ông Đồng Hùng N2, CMND số: [...], địa chỉ: khu A, T, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai, thời gian nhận chuyển nhượng từ ngày 09/08/2022 đến nay.
  • + Thửa đất số 403, tờ bản đồ số 34, địa chỉ: xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, chủ sử dụng đất: ông Đồng Hùng N2, CMND số: [...], địa chỉ: khu A, T, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai, thời gian nhận chuyển nhượng từ ngày 09/8/2022 đến nay.
  • + Thửa đất số 404, tờ bản đồ số 34, địa chỉ: xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, chủ sử dụng đất: ông Nguyễn Đức B, CCCD số: [...], địa chỉ: tổ A, khu phố H, U, T, Bình Dương, thời gian nhận chuyển nhượng từ ngày 07/7/2022 đến nay.
  • + Thửa đất số 405, tờ bản đồ số 34, địa chỉ: xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, chủ sử dụng đất: bà Nguyễn Ngọc Châu T2, sinh năm: 1979, CMND số: 26074561, địa chỉ: phường T, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23/11/2021 được Sở T5 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 09/11/2022, bà Nguyễn Ngọc Châu T2 chuyển nhượng cho ông Lê Hữu T3, CMND số [...], địa chỉ: xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, thời gian nhận chuyển nhượng từ ngày 09/11/2022 đến nay.

Kết quả làm việc với những người quản lý, sử dụng các thửa đất nêu trên, xác định: Các thửa đất trên, hiện do chủ sử dụng đất quản lý từ trước tháng 10/2022 đến nay và không nhận tiền đặt cọc hay chuyển nhượng với người khác.

Bản Cáo trạng số 137/CT-VKSBL, ngày 27 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Trần Thị Tuyết N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • + Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị Tuyết N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị Tuyết N từ 04 năm đến 05 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung.
  • Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 463, 466 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Quá trình điều tra, bị cáo Trần Thị Tuyết N đã trả lại cho chị Trần Thị Thùy T1 số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Chị T1 yêu cầu bị cáo tiếp tục phải bồi thường số tiền chiếm đoạt là 87.400.000đ và phải trả nợ số tiền vay là 89.000.000đ. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường và trả nợ nên ghi nhận.
  • Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • + Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
  • + Bị hại chị Trần Thị Thùy T1 trình bày: Thống nhất với tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa. Đề nghị HĐXX buộc bị cáo N bồi thường số tiền 87.400.000đ và phải trả nợ tiền vay gốc là 89.000.000đ và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ν.
  • + Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Trần Thị Tuyết N đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; Kết luận giám định; lời khai của bị hại; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.

    Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Trong tháng 10 năm 2022 do đang nợ nần nhiều người và làm ăn thua lỗ nên Trần Thị Tuyết N đã thực hiện hành vi đưa ra các thông tin gian dối về việc đầu tư bất động sản là các thửa đất số 402, 403, 404 và thửa đất số 405 tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng và thửa đất ở đường Q, thôn A, xã L, huyện B nhằm để chị Trần Thị Thùy T1 tin tưởng góp tiền cùng với N để đầu tư mua đất chung rồi sau đó chiếm đoạt. N đã 07 lần chiếm đoạt tài sản của chị T1 với tổng số tiền là 187.400.000₫ (một trăm tám mươi bảy triệu bốn trăm ngàn đồng), cả 07 lần N chiếm đoạt có số tiền từ 2.000.000 đồng trở lên.

    Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  3. Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đưa ra thông tin gian dối về các thửa đất không thuộc quyền sử dụng của mình và không có việc giao dịch về các thửa đất rồi chiếm đoạt tài sản của bị hại bị pháp luật nghiêm cấm nhưng với thái độ xem thường kỷ cương pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm nghiêm trọng, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
  4. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường, khắc phục hậu quả được hơn 2/3 thiệt hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  6. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 07 lần chiếm đoạt tiền có giá trị từ 2.000.000đ trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  7. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
  8. Phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung.
  9. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 463, 466 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Quá trình điều tra, bị cáo Trần Thị Tuyết N đã trả lại cho chị Trần Thị Thùy T1 số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Chị T1 yêu cầu bị cáo tiếp tục phải bồi thường số tiền chiếm đoạt là 87.400.000₫ và phải trả nợ tiền vay là 89.000.000đ. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường và trả nợ nên ghi nhận.
  10. Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
  11. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Tuyết N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị Tuyết N 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  2. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 463, 466 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Trần Thị Tuyết N bồi thường và trả nợ cho chị Trần Thị Thùy T1 tổng số tiền là 176.400.000₫ (một trăm bảy mươi sáu triệu, bốn trăm ngàn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về ..., án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Thị Tuyết N phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 8.820.000đ (tám triệu tám trăm hai mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A.DS thành phố B;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 148/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N chiếm đoạt số tiền 187.400.000đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger