|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 147/2024/HS-ST Ngày: 22-10-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Tuấn Tú và bà Lê Thị Thanh Nhàn.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 139/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Đặng Xuân T, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 23/4/1993, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số B C, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Đức T1, sinh năm 1966 và bà Vũ Thị Thủy T2, sinh năm 1972; có vợ: Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1996 (đã ly hôn), con: Chưa có; tiền sự: Không.
- Tiền án: Ngày 07/6/2019, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 32/2019/HS-ST. Đến ngày 19/01/2023 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
- Nhân thân: Ngày 30/01/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đã chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 10/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Đặng Đức V, tên gọi khác: Thịnh M; sinh ngày 01/7/1993, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số G N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Quang M1, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Trần Thị Kim P, sinh năm 1955; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.
- Tiền án:
+ Ngày 22/5/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 42/2020/HS-ST. Chưa được xóa án tích.
+ Ngày 14/01/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 12/2022/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/8/2023. Chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T từ ngày 10/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
3. Họ và tên: Đỗ Thanh T3, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 13/11/2001, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số F N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; nghề nghiệp: Không; con ông Đỗ Tuấn K, sinh năm 1971 và bà Võ Thị Hồng H, sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Ngày 30/6/2020 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 41/QĐ-XPHC. Ngày 11/11/2020, đã nộp số tiền phạt, đã được xóa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 10/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
+ Người làm chứng: Anh Nguyễn Quốc T4, sinh năm 1979, nơi cư trú: Số E Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
+ Người chứng kiến:
- Anh Trần Văn D, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Ông Trần Minh H1, sinh năm 1943; địa chỉ: Tổ I, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 10 phút ngày 10/6/2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố B phối hợp với Công an P1, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tiến hành kiểm tra xe ô tô biển số 49A-647.72 đang dừng tại khu vực đường trước nhà số B, đường B, tổ C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng do nghi vấn trong xe có đối tượng đang tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tại thời điểm kiểm tra, có Đặng Xuân T đang ngồi ở vị trí ghế người điều khiển xe, trên người Đặng Xuân T có đeo một túi xách da màu nâu, bên trong túi Công an thành phố B phát hiện 01 gói ny lon màu trắng có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu xanh kích thước 04 x 05 cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý. Theo T khai nhận thì chất tinh thể trong gói nylon trên là ma tuý đá của T. Do đó, Công an thành phố B đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, đồng thời thu giữ niêm phong số ma túy trên theo quy định.
Tiếp đến, vào lúc 12 giờ 55 phút ngày 10/6/2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố B phối hợp với Công an phường L, thành phố B tiến hành kiểm tra phòng ngủ thứ nhất bên phải tầng 1 nhà của Đỗ Thanh T3, ở địa chỉ: số nhà F N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng do nghi vấn có đối tượng đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại thời kiểm tra, có Đỗ Thanh T3 và Đặng Đức V đang ngồi trong phòng. Qua kiểm tra, Công an thành phố B phát hiện trên mặt sàn ở vị trí trước mặt V đang ngồi có 01 gói nylon với rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu xanh, kích thước 04 cm x 5,5cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tại vị trí mặt sàn ngay bên cạnh T3 đang ngồi có 01 gói nylon màu trắng có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu đỏ, kích thước 04 x 07cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Theo T3 khai nhận gói nylon có chứa chất tinh thể màu trắng ở ngay cạnh vị trí T3 đang ngồi là gói ma túy đá của T3 đang tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Theo khai nhận của V thì gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng cạnh vị trí V đang ngồi là ma túy đá của V. Do đó, Công an thành phố B đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đỗ Thanh T3 và Đặng Đức V, đồng thời thu giữ niêm tang vật nghi là ma tuý của T3 và V theo quy định.
Quá trình điều tra xác định:
Vào sáng ngày 09/6/2024, trong lúc đợi xe ở khu vực cầu vượt T thuộc Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để về thành phố B, tỉnh Lâm Đồng thì Đặng Xuân T nói chuyện và làm quen với 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch). Qua nói chuyện, T biết người này có bán ma tuý đá nên T đã mua 2.000.000 đồng tiền ma túy. Người đàn ông này đưa cho T 01 gói ny lon màu trắng, có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu xanh kích thước 04 x 05 cm, bên trong chứa khoảng 40 “số” ma tuý đá sau đó T mang về thành phố B nhằm mục đích bán trái phép để kiếm lời. Đến chiều cùng ngày, sau khi về thành phố B thì T đến nhà anh Trần Nguyễn Quốc N1, sinh năm 1994, ở địa chỉ: số nhà A B, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, thuê xe ô tô biển số 49A-647.72 để chở bạn gái đi du lịch. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 10/6/2024, T lấy gói ny lon chứa ma tuý đá mà T mua ở thành phố Hồ Chí Minh và phân chia khoảng 25 số ma tuý đá để vào 01 gói nylon màu trắng, có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu xanh, kích thước 04 x 5,5 cm rồi dùng 01 vỏ bao thuốc lá Seven để đựng, sau đó để vào hộc cần số xe ô tô biển số 49A-647.72. Số ma túy còn lại T cất vào trong túi xách da màu nâu mà T đeo trên vai nhằm mục đích có ai mua thì T sẽ bán lại để kiếm lời. Tiếp đó, T điều khiển xe ô tô biển số 49A-647.72 đến quán bún trên đường Đ, xã L, thành phố B để ăn uống cùng với Đặng Đức V. Sau khi ăn xong, T nói V cùng đi đến ngồi vào xe ô tô biển số 49A-647.72, tại đây T lấy vỏ bao thuốc lá Seven bên trong đựng 01 gói ny lon chứa khoảng 25 số ma tuý đá đưa cho V và nói V tìm người rồi bán gói ma tuý này giúp T. Thịnh đọc số tài khoản ngân hàng V1 mang số 1038773720 của T cho V để nếu có người mua ma túy thì sẽ chuyển tiền trực tiếp cho T qua số tài khoản này thì V đồng ý. Sau đó V cầm gói thuốc Seven bên trong chứa ma túy đi xuống xe, còn T điều khiển xe ô tô đi trên các truyến đường thuộc trung tâm thành phố B để tìm người bán lại để thu lợi nhuận. Đến 12 giờ 10 ngày 10/6/2024, T điều khiển xe đến trước nhà số B B, tổ C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng thì bị Công an thành phố B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ 01 gói ny lon màu trắng chứa ma tuý đá đựng
trong túi xách da màu nâu của T đang đeo trên người. Còn Đặng Đức V, sau khi được T đưa 01 gói ny lon chứa ma tuý đựng trong vỏ bao thuốc lá Seven thì V cất vào túi áo. Đến khoảng 10 giờ 30 ngày 10/6/2024, Nguyễn Quốc T4, sinh năm 1979, nơi cư trú: Số E Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng gọi điện thoại cho V hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá thì V đồng ý. Sau đó, V đã lấy gói ny lon chứa ma tuý mà T đưa và chia khoảng 02 số ma tuý vào 01 gói ny lon màu trắng, kích thước khoảng 01 x 02 cm được hàn kín rồi đến nhà T4 để bán cho T4. Khi gặp T4 trên đường Đ, xã L, thành phố B thì V giao gói ma tuý đá cho T4 và đọc số tài khoản Ngân hàng của T để T4 chuyển tiền cho T. Còn gói ny lon chứa khoảng 23 số ma tuý đá còn lại thì V để trong túi áo rồi đến nhà Đỗ Thanh T3 ngồi chơi đến 12 giờ 50 phút cùng ngày thì V bị Công an thành phố B kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Kết quả sao kê tài khoản tại Ngân hàng V1 chi nhánh B xác định: Vào ngày 10/6/2024 chủ tài khoản số 1038773720 tên Đặng Xuân T có nhận chuyển khoản số tiền 300.000 đồng của Nguyễn Quốc T4.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định Đặng Xuân T và Đỗ Thanh T3 cùng thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khác, cụ thể: Vào ngày 07/6/2024, Đặng Xuân T đến khu vực bờ hồ B thuộc Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng gặp một nam thanh niên (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) và mua của người này 01 gói ny lon màu trắng, có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu đỏ kích thước 04 x 07 cm bên trong chứa 04 “số” ma tuý đá với số tiền 300.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Đến sáng ngày 08/6/2024, T cất giấu số ma túy trên vào túi quần đang mặc trên người rồi đến nhà Đỗ Thanh T3 chơi. Khi đến nơi, T gặp Đặng Đức V ở cầu thang rồi cả hai cùng lên phòng ngủ của T3. Lúc này T3 đi vệ sinh nên T và V ngồi nói chuyện trong phòng ngủ của T3, khoảng 15 phút sau thì V đi về, lúc này T lấy gói ny lon chứa 04 “số” ma tuý đá trong túi quần ra để lên sàn phòng ngủ của T3 nhằm mục đích cho T3 để sử dụng (vì trước đây T vẫn thường cho T3 ma tuý đá để sử dụng) rồi đi về. Sau khi T3 lên phòng ngủ và thấy gói nilon chứa ma túy đá thì T3 biết gói ma tuý đá này là của T cho T3 để sử dụng. Đến trưa ngày 10/6/2024 thì T3 bị Công an thành phố B kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ gói ma tuý trên.
* Tại Bản kết luận giám định số 748/KL-KTHS, ngày 14/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong một gói ny lon thu giữ của Đặng Xuân T được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,6216 gam, loại Methamphetamine.
* Tại Bản kết luận giám định số 749/KL-KTHS, ngày 14/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong một gói ny lon thu giữ của Đặng Đức V được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,5410 gam (hai phẩy năm bốn một không gam), loại Methamphetamine.
* Tại Bản kết luận giám định số 750/KL-KTHS, ngày 14/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong một gói ny lon thu giữ của Đỗ Thanh T3 được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4240 gam, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Bản Cáo trạng số 142/CT-VKSBL, ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Đặng Xuân T về tội “Tàng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 251 Bộ Luật Hình sự. Đối với và Đặng Đức V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Đỗ Thanh T3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Đặng Đức V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Đỗ Thanh T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 251; Điều 17, 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Xuân T từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội từ 05 năm đến 07 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung.
- Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 17, 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Đức V từ 08 năm tù đến 09 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17, 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T3 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã thu giữ:
Đối với 02 phong bì niêm phong số 748/2024-PC09; 02 phong bì niêm phong số 749/2024-PC09; 02 phong bì niêm phong số 750/2024-PC09; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm chai nhựa, nỏ thủy tinh và ống hút nhựa màu trắng – đỏ và 01 sim điện thoại số: 0784.110.xxx. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 túi xách da màu nâu kích thước 17 x 20 cm, túi có 01 quai xách. Đây là tài sản của bị cáo T liên quan đến việc phạm tội, bị cáo đề nghị tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh, số sê ri: DNPDRSBTOD83. Đây là tài sản của bị cáo T không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A03, số I: 35 016582 325113 4. Đây là tài sản của bị cáo V liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Số tiền 300.000đ, T bán ma túy cho anh Nguyễn Quốc T4 và anh T4 đã chuyển vào tài khoản Ngân hàng cho T nhận. Đây là tiền do phạm tội mà có nên buộc bị cáo T nộp lại để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
+ Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
+ Các bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa các bị cáo Đặng Xuân T, Đặng Đức V và Đỗ Thanh T3 đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung Kết luận giám định; biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận:
Bị cáo Đặng Đức V đã bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 12/2022/HS-ST ngày 14/01/2022, bản án đã xác định “Tái phạm”, chưa được xóa án tích.
Vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 10/6/2024, tại khu vực đường trước nhà số B B, Tổ C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Đặng Xuân T đã tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 1,6216 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán lại cho người khác để thu lợi nhuận thì bị Công an thành phố B phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Đối với bị cáo Đặng Đức V là người được Đặng Xuân T nhờ giúp đi bán ma túy hộ. Vào khoảng 12 giờ 55 phút ngày 10/6/2024, tại căn nhà số F N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Đặng Đức V đã tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 2,5410 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán trái phép cho người khác để thu lợi nhuận thì bị Công an thành phố B phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Khoảng 12 giờ 55 phút ngày 10/6/2024, tại căn nhà số F N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Đỗ Thanh T3 đã tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lương 0,4240 gam, loại Methamphetamine do Đặng Xuân T tặng cho ngày 08/6/2024, nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an thành phố Bảo Lộc phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Như vậy, Đặng Xuân T đã tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 1,6216 gam, loại Methamphetamine; Đặng Xuân T nhờ Đặng Đức V bán giúp hộ chất ma túy, có khối lượng 2,5410 gam, loại Methamphetamine. Đặng Xuân T tặng cho Đỗ Thanh T3 vào ngày 08/6/2024 ma túy, có khối lượng 0,4240 gam, loại Methamphetamine nên Đặng Xuân T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có tổng khối lượng là 4,5866g, loại Methamphetamin.
Hành vi của bị cáo Đặng Xuân T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đối với Đặng Đức V đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và đối với Đỗ Thanh T3 phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và nhằm mục đích thoả mãn cho nhu cầu của bản thân nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo T và bị cáo T3 thực hiện tội phạm nghiêm trọng, bị cáo V thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo Đặng Xuân T và bị cáo Đặng Đức V có nhân thân rất xấu. Bị cáo Đỗ Thanh T3 có nhân thân tốt.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Vì vậy, cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Ngày 07/6/2019, bị cáo Đặng Xuân T bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 32/2019/HS-ST, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội mới do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đặng Đức V và bị cáo Đỗ Thanh T3 không có tình tiết tăng nặng.
[7] Vụ án có đồng phạm nên cần xem xét tính chất, mức độ của các bị cáo như sau:
Đối với bị cáo T là người có vai trò chính nên tính chất, mức độ cao hơn.
Đối với bị cáo V là người có vai trò giúp sức cho bị cáo T nên tính chất, mức độ thấp hơn bị cáo T nhưng phải cao hơn bị cáo T3.
Đối với bị cáo T3 có vai trò giản đơn nên tính chấp, mức độ thấp hơn hai bị cáo T và V.
[8] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.
[9] Phạt bổ sung: Các bị cáo là người sử dụng ma túy nên miễn phạt bổ sung.
[10] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý như sau:
Đối với 02 phong bì niêm phong số 748/2024-PC09; 02 phong bì niêm phong số 750/2024-PC09; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm chai nhựa, nỏ thủy tinh và ống hút nhựa màu trắng – đỏ và 01 sim điện thoại số: 0784.110.xxx. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 túi xách da màu nâu kích thước 17 x 20 cm, túi có 01 quai xách. Đây là tài sản của bị cáo T liên quan đến việc phạm tội, bị cáo đề nghị tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh, số sê ri: DNPDRSBTOD83. Đây là tài sản của bị cáo T không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A03, số I: 35 016582 325113 4. Đây là tài sản của bị cáo V liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Số tiền 300.000đ, T bán ma túy cho anh Nguyễn Quốc T4 và anh T4 đã chuyển vào tài khoản Ngân hàng cho T nhận. Đây là tiền do phạm tội mà có nên buộc bị cáo T nộp lại để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với xe ô tô biển số 49A-647.72, Cơ quan Công an thành phố B đã ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại cho anh Trần Nguyễn Quốc N1 là chủ sở hữu pháp nên không xem xét.
[11] Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi là người đã bán ma túy cho Đặng Xuân T ở khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra, chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng trên nên Cơ quan Công an thành phố Bảo Lộc tách ra tiếp tục xác minh khi có căn cứ thì sẽ xử lý sau.
Đối với nam thanh niên là người đã bán ma túy cho Đặng Xuân T ở khu vực bờ hồ B thuộc Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng trên nên Cơ quan Công an thành phố Bảo Lộc tách ra tiếp tục xác minh khi có căn cứ thì sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Quốc T4 là người mua ma túy của Đặng Đức V. Quá trình điều tra xác định: Sau khi mua ma túy của V thì T4 đã sử dụng hết nên Cơ quan Công an thành phố B không xem xét trách nhiệm hình sự.
Đối với anh Trần Nguyễn Quốc N1 là người cho bị cáo Đặng Xuân T thuê xe ô tô biển số 49A-647.72. Quá trình điều tra xác định: Anh N1 không biết việc thuê xe của bị cáo T sử dụng làm phương tiện phạm tội, không giúp sức gì nên Cơ quan Công an thành phố B không xem xét trách nhiệm hình sự.
[12] Xét ý kiến phát biểu trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[13] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Đặng Đức V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Đỗ Thanh T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 251; Điều 17, 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Xuân T 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/6/2024.
- Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 17, 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Đức V 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/6/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17, 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T3 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Buộc bị cáo Đặng Xuân T phải nộp lại số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu tiêu huỷ gồm: 02 phong bì niêm phong số 748/2024-PC09; 02 phong bì niêm phong số 749/2024-PC09; 02 phong bì niêm phong số 750/2024-PC09; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm chai nhựa, nỏ thủy tinh và ống hút nhựa màu trắng – đỏ; 01 túi xách da màu nâu kích thước 17 x 20 cm, túi có 01 quai xách và 01 sim điện thoại số: 0784.110.xxx.
- Trả lại cho bị cáo Đặng Xuân T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh, số sê ri: DNPDRSBTOD83 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A03, số I: 35 016582 325113 4.
Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/10/2024 giữa Cơ quan Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đặng Xuân T, Đặng Đức V và Đỗ Thanh T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 147/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T CĐP tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy.
