|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 145/2024/HS-ST Ngày: 22-10-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Tuấn Tú và bà Lê Thị Thanh Nhàn.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2024/TLST- HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị M, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 11/11/1982, tại tỉnh Tuyên Quang; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: Số G T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957 và bà Khuất Thị T1, sinh năm 1955; chồng: Không, con: Có 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Có mặt.
+ Bị hại:
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1950; địa chỉ: Số B L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Chị Trương Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ: Số G T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Anh Lê Đức H1, sinh năm 1997; địa chỉ: Số C T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đỗ Hiếu Thanh L, sinh năm 1986; địa chỉ: Số B T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Anh Trần Cao P, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1999; địa chỉ: Số E N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/06/2024, Nguyễn Thị M điều khiển xe mô tô (không nhớ rõ biển số) chở theo con gái Nguyễn Thiên A, sinh năm 2020 đi trên Quốc lộ B theo hướng từ trung tâm thành phố B đi thành phố Đ. Khi đến nhà ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1950 ở địa chỉ: số nhà B, đường L, thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng thì M dừng xe rồi bế con gái vào nhà ông B xin tiền mua thức ăn thì ông B đồng ý. Ông B đi vào trong phòng ngủ lấy tiền thì lúc này M quan sát và phát hiện trên kệ gỗ trong phòng ăn có 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6Plus và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A5s nên nảy sinh ý định trộm cắp 02 chiếc điện thoại này bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định trên, M đến lấy 02 điện thoại trên và cất giấu vào túi áo đang mặc rồi đứng ở cửa phòng ăn chờ ông B. Một lúc sau ông B đi ra đưa cho M số tiền 20.000 đồng, M cầm tiền rồi điều khiển xe chở cháu Thiên A đến cửa hàng điện thoại Mobile 366 ở địa chỉ: số nhà E, đường N, phường L, thành phố B bán cho chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1999 01 điện thoại Iphone 6Plus với giá 450.000 đồng; điện thoại OPPO A5s với giá là 250.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên M sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS ngày 95/7/2924 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus có giá trị là 1.167.000 đồng. Đối với điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s do không thu hồi được nên Hội đồng định giá đã từ chối định giá.
Quá trình điều tra xác định, M còn khai thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác trên địa bàn thành phố B, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 23/04/2024, M điều khiển xe mô tô (không nhớ rõ biển số) chở cháu A đi quanh các tuyến đường thuộc trung tâm thành phố B để tìm nhà dân sơ hở thì trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến nhà chị Trương Thị H, sinh năm 1982, địa chỉ: số nhà G, đường T, phường B, thành phố B, thì thấy không khoá cửa nên M dừng xe rồi đi vào trong phòng bếp tìm tài sản. Tại đây M phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen để trên bàn ăn nên M trộm cắp và cất giấu vào túi áo. Sau đó M điều khiển xe đến tiệm điện thoại APPLE, địa chỉ: số B, đường T, phường L, thành phố B bán cho anh Đỗ Hiếu Thanh L, sinh năm 1986 được số tiền 800.000 đồng. Toàn bộ số tiền này M sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS ngày 95/7/2924 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen của chị H có giá trị là 2.533.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 09 giờ ngày 04/6/2024, M điều khiển xe máy (không rõ biển số) chở theo cháu A đi quanh khu vực xã Đ, thành phố B để tìm sở hở trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến nhà anh Lê Đức H1, sinh năm 1997, địa chỉ: số C, đường T, xã Đ, thành phố B thì thấy cửa mở và không có ai trông coi. M dừng xe đi vào trong nhà tìm kiếm tài sản thì phát hiện trên bàn ở phòng khách có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng nên M trộm cắp và cất giấu vào túi áo đang mặc. Sau đó M điều khiển xe đến cửa hàng điện thoại di động số A, đường T, phường L, thành phố B bán cho anh Trần Cao P, sinh năm 1984 (là chủ cửa hàng) được số tiền 400.000 đồng và xử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS ngày 95/7/2924 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng của anh H1 có giá trị là: 4.833.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 144/CT-VKSBL, ngày 04 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
+ Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra Cơ Công an thành phố B đã thu giữ và ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại tài sản cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, màu đồng; chị Trương Thị H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen và anh Lê Đức H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A5s, màu xanh của ông B, sau khi trộm cắp thì M đã bán lại cho chị T2, sau đó chị T2 bán lại cho người khác nên Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không xem xét.
Đối với xe mô tô (không rõ biển số) M sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản vào ngày 23/4/2024 là do M mượn của người tên H2 (người cùng dãy trọ với M ở thị trấn L, huyện B) và xe mô tô (không rõ biển số) M sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản vào các ngày 04/6/2024 và ngày 25/6/2024 là do M mượn của người tên T3 (người cùng dãy trọ với M ở xã Đ, thành phố B). Qua làm việc xác định hiện nay chị H2 và anh T3 không còn thuê trọ ở đây nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố B không triệu tập làm việc được nên không xem xét.
Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, bị hại gồm ông Nguyễn Văn B, chị Trương Thị H và anh Lê Đức H1 đã nhận lại tài sản bị M trộm cắp và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự. Riêng đối với 01 điện thoại Oppo A5S của ông B hiện nay không thu hồi được nhưng ông B không yêu cầu M bồi thường nên không xem xét. Đối với chị Nguyễn Thị T2, anh Đỗ Hiếu Thanh L, Trần Cao P là những người mua điện thoại của M nhưng không biết là do M trộm cắp mà có, sau khi biết sự việc thì chị T2, anh L và anh P đã tự nguyện giao nộp những tài sản này cho Cơ quan điều tra, đồng thời không yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự nên không xem xét.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
+ Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị M đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 23/4/2024 đến ngày 25/6/2024, tại phường B' Lao, xã L và xã Đ thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Thị M đã liên tục 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X của chị H có giá trị là 2.533.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 của anh H1 có giá trị là 4.833.000; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6Plus và 01 điện thoại OPPO A5s của ông B, giá trị 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6Plus là 1.167.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 8.533.000 đồng, trong đó có 02 lần giá trị tài sản trên 2.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- [3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật và do lười lao động lấy việc trộm cắp tài sản của người khác nhằm mục đích thoả mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội ở địa phương và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
- [4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi, trả lại cho bị hại và bị hại viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản, trong đó có 02 lần trị giá tài sản trên 2.000.000₫ nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- [7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
- [8] Phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập nên miễn phạt bổ sung.
-
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra Cơ Công an thành phố B đã thu giữ và ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại tài sản cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, màu đồng; chị Trương Thị H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen và anh Lê Đức H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A5s, màu xanh của ông B, sau khi trộm cắp thì M đã bán lại cho chị T2, sau đó chị T2 bán lại cho người khác nên Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không xem xét.
Đối với xe mô tô (không rõ biển số) M sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản vào ngày 23/4/2024 là do M mượn của người tên H2 (người cùng dãy trọ với M ở thị trấn L, huyện B) và xe mô tô (không rõ biển số) M sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản vào các ngày 04/6/2024 và ngày 25/6/2024 là do M mượn của người tên T3 (người cùng dãy trọ với M ở xã Đ, thành phố B). Qua làm việc xác định hiện nay chị H2 và anh T3 không còn thuê trọ ở đây nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố B không triệu tập làm việc được nên không xem xét.
- [10] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, bị hại gồm ông Nguyễn Văn B, chị Trương Thị H và anh Lê Đức H1 đã nhận lại tài sản bị M trộm cắp và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự. Riêng đối với 01 điện thoại Oppo A5S của ông B hiện nay không thu hồi được nhưng ông B không yêu cầu M bồi thường. Đối với chị Nguyễn Thị T2, anh Đỗ Hiếu Thanh L, anh Trần Cao P là những người mua điện thoại của M nhưng không biết là do M trộm cắp mà có, sau khi biết sự việc thì chị T2, anh L và anh P đã tự nguyện giao nộp những tài sản này cho Cơ quan điều tra, đồng thời không yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự nên không xem xét.
-
[11] Các vấn đề khác:
Đối với chị Nguyễn Thị T2, anh Đỗ Hiếu Thanh L và anh Trần Cao P là những người mua điện thoại của M do trộm cắp mà có. Quá trình điều tra xác định: Những người này không biết tài sản là do M trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
- [12] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
- [13] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 145/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: M trộm cắp có giá trị tài sản chiếm đoạt là 8.533.000 đồng
