|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 144/2024/HS-ST Ngày: 22-10-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Tuấn Tú và bà Lê Thị Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 138/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị H, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 20/6/1966, tại tỉnh Hà Nam; nơi đăng ký thường trú: Tổ E, khu C (nay là Tổ A), Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: Tổ F, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hà Giang; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 07/10; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Trần Ngọc Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); có chồng: Đào Quang D, sinh năm 1963; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/5/2024 đến ngày 31/5/2024 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
+ Bị hại:
- - Bà Đào Thị T, sinh năm 1954; địa chỉ: Số A K, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- - Bà Đoàn Thị Kim A, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số B L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- - Ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- - Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963; địa chỉ: Số A N, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- - Ông Dương Đức N1, sinh năm 1926 (đã chết); địa chỉ: Số A C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Đại diện hợp pháp của ông N1: Bà Trần Thị C1, sinh năm 1932, địa chỉ: Số A C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; ông Đương Đức Đ1, sinh năm 1954, địa chỉ: Số A C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; ông Dương Đức T2, sinh năm 1957, địa chỉ: Số A C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; bà Dương Thị Hồng T3, sinh năm 1960, địa chỉ: Số A C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; ông Dương Đức M, sinh năm 1962, địa chỉ: Hẻm S B, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; ông Dương Đức C2, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; ông Dương Đức T4, sinh năm 1968, địa chỉ: Hẻm S C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và bà Dương Thị Ánh N2, địa chỉ: Số A C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mối quan hệ là vợ và là con ruột.
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Đức T2, sinh năm 1957, địa chỉ: Số A C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Văn bản ủy quyền ngày 21/10/2024. Có mặt.
- - Ông Nguyễn Đình C3, sinh năm 1955; địa chỉ: Số C L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- - Bà Trần Thị H1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn G, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- - Ông Tô Đình H2, sinh năm 1949; địa chỉ: Số D L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- - Ông Lê Hữu N3, sinh năm 1960; địa chỉ: Số C C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt có lý do, có vợ là bà Quách Thị L, sinh năm 1960 tham gia phiên tòa. Có mặt.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1985; địa chỉ: Số B H, Phường B, thành phố B, tỉnh lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng năm 2000, Trần Thị H sinh sống và làm nghề mua bán heo thịt của nhiều hộ dân tại địa bàn thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Lâm Đồng. Thời điểm này, H lợi dụng niềm tin của nhiều người để vay mượn tiền và mua heo thịt, sau khi mua heo thịt xong thì H trả một phần tiền, số tiền còn lại H hẹn trả sau nhưng sau đó H đã bỏ trốn khỏi địa phương để trốn tránh trách nhiệm trả nợ, cụ thể:
- * Người thứ 1: Vào thời gian tháng 06/2000 đến tháng 08/2000, H vay của bà Đào Thị T, sinh năm 1954, nơi cư trú: tổ F, khu C, phường B, thị xã B (nay là thành phố B) số tiền là 46.000.000 đồng trong thời hạn 02 tháng, lãi suất hai bên thoả thuận miệng với nhau là từ 2,5% đến 3%/tháng. Tuy nhiên, khi hết thời hạn trên H không trả lại cho bà T và bỏ đi khỏi địa phương. Đến năm 2008, H đã trả cho bà T số tiền 46.000.000 đồng nêu trên.
- * Người thứ 2: Vào thời gian tháng 06/2000 đến tháng 08/2000, H thuê ông Ngô Gia P, sinh năm 1948, nơi cư trú: thôn C, xã Đ, thành phố B chở heo thịt sau khi mua của các hộ dân. Quá trình thuê ông P thì H đã trả tiền công cho ông P và còn nợ lại số tiền 1.500.000 đồng. Ngoài ra, H còn vay của ông P số tiền 18.000.000 đồng nhưng đến nay chưa trả, lý do chưa trả được là do ông P đã chuyển đi nơi khác ở không tìm được địa chỉ.
- * Người thứ 3: Vào ngày 27/7/2000, H mua 937kg heo thịt của bà Đoàn Thị Kim A, sinh năm 1954, nơi cư trú: tổ H, khu A, phường B, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Lâm Đồng với số tiền là 8.433.000 đồng. H đã trả cho bà Kim A số tiền là 433.000 đồng, còn nợ lại số tiền là 8.000.000 đồng. Đến năm 2007 thì H đã trả nợ xong cho bà Kim A số tiền là 8.000.000 đồng.
- * Người thứ 4: Vào ngày 28/7/2000, H mua 531kg heo thịt của ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1955, nơi cư trú: thôn B, xã Đ, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Lâm Đồng với số tiền là 5.496.000 đồng. Sau đó H đã trả cho ông N số tiền 2.000.000 đồng, còn nợ số tiền là 3.496.000 đồng. Đến ngày 21/6/2024, H đã trả nợ tiền gốc và bồi thường cho ông N tổng số tiền là 15.000.000 đồng.
- * Người thứ 5: Vào ngày 07/8/2000, H mua 496kg heo thịt của ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963, nơi cư trú: tổ A, khu A, phường B, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Lâm Đồng với số tiền là 4.960.000 đồng. Sau đó H đã trả cho ông T1 số tiền 1.940.000 đồng, còn nợ lại số tiền là 3.020.000 đồng. Đến ngày 28/5/2024, H đã trả nợ tiền gốc và bồi thường cho ông T1 tổng số tiền là 15.000.000 đồng.
- * Người thứ 6: Vào ngày 11/8/2000, H mua 560kg heo thịt của ông Dương Đức N1, sinh năm 1926, nơi cư trú: tổ A, khu A, phường A, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Lâm Đồng với số tiền là 5.650.000 đồng. Đến ngày 30/5/2024, H đã trả nợ tiền gốc và bồi thường cho ông N1 tổng số tiền là 12.000.000 đồng.
- * Người thứ 7: Vào ngày 16/8/2000, H mua 251kg heo thịt của ông Nguyễn Đình C3, sinh năm 1955, nơi cư trú: thôn B, xã Đ, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Lâm Đồng với số tiền là 2.394.000 đồng. Đến ngày 30/5/2024, H đã trả nợ tiền gốc và bồi thường cho ông C3 tổng số tiền là 30.000.000 đồng.
- * Người thứ 8: Vào ngày 24/8/2000, H mua 249kg heo thịt của bà Trần Thị H1, sinh năm 1968, nơi cư trú: xóm C, thôn E, xã Đ, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Lâm Đồng với số tiền là 2.315.000 đồng. H đã trả cho bà H1 số tiền là 1.150.000 đồng, còn nợ lại số tiền là 1.165.000 đồng. Bà H1 không yêu cầu H trả số tiền này.
- * Người thứ 9: Vào ngày 24/8/2000, H mua 724kg heo thịt của ông Tô Đình H2, sinh năm 1949, nơi cư trú: thôn F, xã Đ, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Lâm Đồng với số tiền là 6.878.000 đồng. Sau đó H đã trả cho ông H2 số tiền là 2.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền là 4.878.000 đồng. Đến ngày 28/5/2024, H đã trả nợ tiền gốc và bồi thường cho ông H2 tổng số tiền là 6.000.000 đồng.
- * Người thứ 10: Vào ngày 30/8/2000, H mua 1000kg heo thịt của ông Lê Hữu N3, sinh năm 1960, nơi cư trú: khu A, phường A, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Lâm Đồng với số tiền là 12.000.000 đồng. Sau đó H đã trả cho ông N3 số tiền là 5.000.000 đồng, còn nợ số tiền là 7.000.000 đồng. Đến năm 2005, H đã trả cho ông N3 7.000.000 đồng.
Sau khi phạm tội bị cáo H đã bỏ trốn, đến ngày 22/5/2024 bị cáo H bị bắt theo Quyết định truy nã.
Bản Cáo trạng số 143/CT-VKSBL, ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- + Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
- + Các bị hại có mặt tại phiên tòa đều trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố, luật tội của kiểm sát viên tại phiên tòa, đều đã nhận đủ số tiền gốc và tiền bồi thường thiệt như bị cáo trình bày là đúng và đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất được cải tạo ngoài xã hội.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Văn Q trình bày: Anh là cháu của bị cáo Trần Thị H. Toàn bộ số tiền trả cho bị hại là tiền của bị cáo H đưa cho anh để anh trả lại và bồi thường cho bị hại.
- + Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; Điều 38 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, từ năm 2005 cho đến ngày 21/6/2024 bị cáo Trần Thị H đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả trả nợ hết số tiền gốc và bồi thường thêm cho các bị hại, gồm: Bà Trần Thị H1 số tiền 1.165.000 đồng, Bà Đoàn Thị Kim A số tiền 8.433.000 đồng, ông Nguyễn Đình N số tiền 15.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn T1 số tiền 15.000.000 đồng, ông Nguyễn Đình C3 số tiền 30.000.000 đồng, ông Tô Đình H2 số tiền 6.000.000 đồng, ông Lê Hữu N3 số tiền 7.000.000 đồng, ông Dương Đức N1 số tiền 12.000.000 đồng, bà Đào Thị T số tiền 46.000.000 đồng, các bị hại không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự và tự nguyện viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt nên không xem xét.
Riêng đối với ông Ngô Gia P, qua trình xác minh, xác định: ông Phổ cùng gia đình đã bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2009. Hiện nay, không biết ông P và gia đình sinh sống ở đâu nên bị cáo H không thể thực hiện nghĩa vụ bồi thường.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
+ Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Trần Thị H đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; biên bản bắt người đang bị truy nã; Kết luận giám định; lời khai của bị hại; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Lợi dụng mối quan hệ mua bán và sự tin tưởng với nhau. Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2000 đến tháng 8/2000, tại thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Lâm Đồng, Trần Thị H và các bị hại đã lập hợp đồng vay tiền và đã thỏa thuận bằng lời nói mua bán thịt heo, sau đó trả một phần tiền rồi bỏ trốn khỏi địa phương nhằm chiếm đoạt tổng số tiền là 101.103.000 đồng. Từ năm 2005 đến ngày 21/6/2024 Trần Thị H đã tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi giao dịch vay tiền và mua bán thịt heo với các bị hại nhưng không trả nợ hết và đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú để đến các địa phương khác sinh sống nhằm mục đích chiếm đoạt. Hành vi này bị pháp luật nghiêm cấm nhưng với thái độ xem thường kỷ cương pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm nghiêm trọng, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường, khắc phục hậu quả; bị hại viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt; phạm tội lần đầu; bị cáo có cha đẻ là ông Trần Ngọc Đ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt mức hình phạt cho bị cáo dưới khung hình phạt là phù hợp.
[8] Phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung.
[9] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, từ năm 2005 cho đến ngày 21/6/2024 bị cáo Trần Thị H đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả trả nợ hết số tiền gốc và bồi thường thêm cho các bị hại, gồm: Bà Trần Thị H1 số tiền 1.165.000 đồng, Bà Đoàn Thị Kim A số tiền 8.433.000 đồng, ông Nguyễn Đình N số tiền 15.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn T1 số tiền 15.000.000 đồng, ông Nguyễn Đình C3 số tiền 30.000.000 đồng, ông Tô Đình H2 số tiền 6.000.000 đồng, ông Lê Hữu N3 số tiền 7.000.000 đồng, ông Dương Đức N1 số tiền 12.000.000 đồng, bà Đào Thị T số tiền 46.000.000 đồng, các bị hại không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự và tự nguyện viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt nên không xem xét.
Riêng đối với ông Ngô Gia P, qúa trình xác minh, xác định: ông Phổ cùng gia đình đã bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2009. Hiện nay, không biết ông P và gia đình sinh sống ở đâu nên bị cáo H không thể thực hiện nghĩa vụ bồi thường.
[10] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[11] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ ngày tạm giữ từ ngày 22/5/2024 đến ngày 31/5/2024.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 144/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 144/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H chiếm đoạt số tiền 101.103.000 đồng rồi bỏ trốn khỏi địa phương.
