|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 142/2024/HS-ST Ngày: 30-9-2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tuyệt .
2. Bà Lê Thị Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Ka Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 133/2024/TLST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hữu T, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 26/01/1992, tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên kho bãi; con ông Lê Hữu T1, sinh năm 1967 (đã chết) và bà Đặng Thị V, sinh năm 1968; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Có mặt.
+ Bị hại: Bà Đặng Thị V, sinh năm 1968; địa chỉ: Số A L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do chơi chứng khoán bị thua lỗ nên Lê Hữu T, sinh năm 1992, trú tại số nhà A L, phường L, thành phố B đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của gia đình để lấy tiền chơi tiếp. Thực hiện ý định, vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 25/10/2023 lợi dụng lúc bà Đặng Thị V, sinh năm 1968 (là mẹ đẻ của T) đi vắng nhà T đã gọi điện cho bà V nói dối về việc có người phá song sắt cửa sổ phòng bếp đi vào nhà lấy trộm tài sản.
Sau khi nói chuyện điện thoại xong, T xuống phòng bếp lấy 01 con dao dài 37,5cm và 01 cây chày gỗ dài 21,5cm rồi đến cửa sổ phòng bếp dùng con dao và chày gỗ đập, phá 02 song sắt cửa sổ với mục đích tạo hiện trường giả do người khác cạy cửa sổ đột nhập vào nhà lấy tài sản. Tiếp theo, T đi vào phòng ngủ của bà V dùng dao, chày gỗ và 01 cây tuốc nơ vít cạy, phá khóa cửa (loại khóa tay nắm) rồi mở cửa đi vào phòng ngủ. T đến tủ để quần áo, mở cánh tủ, lấy chìa khóa mở ngăn tủ rồi lấy được: 01 sợi dây chuyền bằng vàng, 01 lắc tay bằng vàng, 07 chiếc nhẫn bằng vàng, 100.000 tiền Y, 5.000.000 đồng tiền Việt Nam. Sau đó, T mang tiền Yên N và số vàng nêu trên đến phòng bếp lấy 01 bịch ni lông màu trắng kích thước khoảng 10x08cm rồi bỏ vào trong bịch ni lông này, còn số tiền 5.000.000 đồng, T bỏ trong chiếc ví màu nâu và cất chiếc ví này trong túi áo khoác để trong phòng ngủ của T. Đối với bịch ni lông bên trong có vàng và tiền Yên N vừa lấy trộm thì T cất giấu dưới giường ngủ. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, bà V về đến nhà thì kiểm tra thấy toàn bộ vàng và tiền của mình đã bị mất nên nói T đến Công an phường L, thành phố B trình báo sự việc. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, T mang số vàng và tiền để trong bịch nilon đến cất giấu ở dưới một gốc cây mít cạnh đường H đường L, phường L, thành phố B để tránh bị Công an phát hiện. Đến ngày 26/10/2023, T quay lại chỗ cất giấu lấy tiền Yên N và vàng mang về trả lại cho bà V. Sau đó, bà V đã mang bán toàn bộ số vàng và 100.000 tiền Yên Nhật tại cửa hàng “Kim Tài N1” do ông Dương Tấn T2, sinh năm 1966; địa chỉ: Số G T, phường L, thành phố B làm chủ được số tiền 115.000.000 đồng. Số tiền này sau đó bà V đã cho chị Lê Thị Thu T3, sinh năm 1995; địa chỉ: Số A L, phường L, thành phố B (là con gái bà V) mượn để xây nhà. Đối với 5.000.000 đồng tiền Việt Nam, T đã tiêu xài cá nhân hết 3.545.000 đồng, còn lại 1.455.000 đồng T đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B.
* Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 41/KL - HÐÐGTS ngày 21 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xác định:
- Giá bán tại thời điểm ngày 25/10/2023, 06 nhẫn vàng 24K, tổng trọng lượng 10 chỉ (tài sản không thu hồi được, không còn lưu giữ giấy tờ mua bán), có giá trị: 59.500.000đ (năm mươi chín triệu năm trăm ngàn đồng).
- Giá bán tại thời điểm ngày 25/10/2023, 01 lắc tay vàng 24K, trọng lượng 05 chỉ (tài sản không thu hồi được, không còn lưu giữ giấy tờ mua bán), có giá trị: 29.500.000đ (hai mươi chín triệu năm trăm ngàn đồng).
- Căn cứ Công văn phúc đáp công văn số 98/LAÐ-TH&KSNB ngày 19/02/2024 của Ngân hàng N2 chi nhánh tỉnh L, giá bán thời điểm ngày 25/10/2023 của 100.000 Yên Nhật (tài sản không thu hồi được, không còn lưu giữ giấy tờ mua bán), có giá trị 100.000 yên nhật x161VNĐ/1yên = 16.100.000đ (mười sáu triệu một trăm ngàn đồng).
Tổng giá trị sản cần định giá nêu trên tại thời điểm ngày 25/10/2023 là 105.100.000 đồng.
Đối với các tài sản:
- 01 nhẫn trang sức bằng vàng 18K, không xác định được trọng lượng, tài sản không thu hồi được, không còn lưu giữ giấy tờ mua bán. Do đó, Hội đồng định giá thống nhất từ chối định giá.
- 01 sợi dây chuyền vàng, loại 18K, không xác định được trọng lượng, tài sản không thu hồi được, không còn lưu giữ giấy tờ mua bán. Do đó, Hội đồng định giá thống nhất từ chối định giá.
* Đối với 100.000 tiền Yên N không thu hồi được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ giám định tiền Yên N là thật hay giả.
Bản Cáo trạng số 132/CT-VKSBL, ngày 09 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Lê Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Hữu T từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm. Miễn hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B đã tạm giữ và ra Quyết định lý vật chứng trả lại: Số tiền 1.455.000 đồng; 01 tay nắm cửa bằng kim loại kích thước 11x7,5x7,5cm; 01 đoạn song cửa sổ bằng sắt dẹp kích thước 88x19,5x1,5cm và 01 đoạn song cửa sổ bằng sắt vuông rỗng, kích thước 87,5x21x1,5cm cho bị hại là bà Đặng Thị V nên không xem xét.
Hiện Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đang tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh và 01 chiếc ví da màu đen. Đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Đối với 01 chày làm bằng gỗ dài 21,5cm, phần cán có đường kính 4,5cm, phần đầu có đương kính 05cm và 01 con dao bằng kim loại dài 37,5cm, mũi dao bằng, đầu mũi dao có dính sơn đỏ thẫm. Đây là vật chứng minh tội phạm và là tài sản của bà Đặng Thị V nên trả lại cho bà V.
Đối với 06 nhẫn vàng 24K, 01 nhẫn trang sức bằng vàng 18K, 01 lắc tay bằng vàng 24K, 01 sợi dây chuyền vàng loại 18K, 100.000 tiền Yên Nhật bị hại sau khi nhận lại được tài sản đã mang bán nên không thu hồi được nên không xem xét.
Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự.
Sau khi phạm tội, bị cáo Lê Hữu T đã mang toàn bộ số tiền và vàng đã trộm cắp trả lại cho bị hại là bà Đặng Thị V. Sau khi nhận lại số tài sản trên, bà V không có yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự và tự nguyện viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T. Đối với các tài sản bị hư hỏng do Trung cạy, phá cửa gây ra bà V không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
+ Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
+ Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Lê Hữu T đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Lê Hữu T chung sống cùng nhà với mẹ đẻ là bà Đặng Thị V; địa chỉ: Số nhà A L, phường L, thành phố B. Do cần tiền để chơi chứng khoán nên vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 25/10/2023, Lê Hữu T đã tạo hiện trường giả và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: 07 chiếc nhẫn bằng vàng, 01 lắc tay bằng vàng, 01 sợi dây chuyền bằng vàng, 100.000 tiền Yên N và 5.000.000 Việt Nam đồng để trong hộc tủ trong phòng ngủ riêng của bà V. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 110.100.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tạo hiện trường giả rồi chiếm đoạt tài sản của người thân thích với mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường pháp luật, nhằm mục đích thoả mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội ở địa phương và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại; được Chính ủy Trung đoàn BB88, thuộc Sư đoàn 302 Quân khu G tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến và bị hại viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải bắt đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình giáo dục là phù hợp. Vì vậy, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo cũng đủ răn đe, phòng ngừa.
[8] Phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung.
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B đã tạm giữ và ra Quyết định lý vật chứng trả lại: Số tiền 1.455.000 đồng; 01 tay nắm cửa bằng kim loại kích thước 11x7,5x7,5cm; 01 đoạn song cửa sổ bằng sắt dẹp kích thước 88x19,5x1,5cm và 01 đoạn song cửa sổ bằng sắt vuông rỗng, kích thước 87,5x21x1,5cm cho bị hại là bà Đặng Thị V nên không xem xét.
Hiện Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đang tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh và 01 chiếc ví da màu đen. Đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Đối với 01 chày làm bằng gỗ dài 21,5cm, phần cán có đường kính 4,5cm, phần đầu có đương kính 05cm và 01 con dao bằng kim loại dài 37,5cm, mũi dao bằng, đầu mũi dao có dính sơn đỏ thẫm. Đây là vật chứng minh tội phạm và là tài sản của bà Đặng Thị V còn sử dụng được nên trả lại cho bà V.
Đối với 06 nhẫn vàng 24K, 01 nhẫn trang sức bằng vàng 18K, 01 lắc tay bằng vàng 24K, 01 sợi dây chuyền vàng loại 18K, 100.000 Yên Nhật bị hại sau khi nhận lại được tài sản đã mang bán nên không thu hồi được nên không xem xét.
[10] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo Lê Hữu T đã mang toàn bộ số tiền và vàng đã trộm cắp trả lại cho bị hại là bà Đặng Thị V. Sau khi nhận lại số tài sản trên, bà V không có yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự. Đối với các tài sản bị hư hỏng do Trung cạy, phá cửa gây ra cho bà V không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[11] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Hữu T 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám), tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Hữu T cho Ủy ban nhân dân UBND phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án hình sự được thực hiện theo Luật Thi hành án Hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách. “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự”.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Lê Hữu T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh và 01 chiếc ví da màu đen nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Trả lại cho bà Đặng Thị V 01 chày làm bằng gỗ dài 21,5cm, phần cán có đường kính 4,5cm, phần đầu có đương kính 05cm và 01 con dao bằng kim loại dài 37,5cm, mũi dao bằng, đầu mũi dao có dính sơn đỏ thẫm.
Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/9/2024 giữa Cơ quan Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Hữu T phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 142/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T trôm cắp có giá trị tài sản chiếm đoạt là 110.100.000 đồng.
