Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 22-01-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ và bà Nguyễn Thị Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 199/2024/TLST- HS ngày 30 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 30/3/1997, tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký thường trú: thôn Q, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh và nơi cư trú: Số B B, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đinh Văn T1, sinh năm 1968 và bà Phan Thị N, sinh năm 1971; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Công ty Cổ phần dịch vụ giao hàng nhanh

Địa chỉ trụ sở: Số D X, Phường B, quận B, TP H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Duy H, sinh năm 1983. Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phạm Triệu H1, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Thúy L, sinh năm 1998; địa chỉ: Số H T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần D – Chi nhánh L1 mã số chi nhánh: 0311907295-032 là chi nhánh hoạt động theo ủy quyền của Công ty Cổ phần D (GHN), được thành lập ngày 02/8/2012 theo Giấy chứng nhận do Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố H cấp, đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Lương Duy H – Tổng giám đốc công ty.

Ngày 05/9/2017, Công ty Cổ phần D – chi nhánh L1 thành lập địa điểm kinh doanh số 03 hoạt động theo ủy quyền của Công ty Cổ phần D – chi nhánh L1 tại địa chỉ: Số C N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận địa điểm kinh doanh do Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Lâm Đồng. Ngày 28/5/2024, Công ty Cổ phần D ký hợp đồng dịch vụ số 3098226//HĐDV/EXP/2024 với Đinh Văn T, thời gian hợp đồng kể từ ngày 28/5/2024 đến hết ngày 30/6/2025, công việc của Đinh Văn T được giao theo hợp đồng dịch vụ là cung cấp dịch vụ theo chuyên môn của Công ty và các dịch vụ khác của Công ty cho khách hàng của Công ty. Cụ thể theo quy trình làm việc của Công ty thì T là nhân viên phát triển thị trường (nhân viên giao hàng), công việc được giao là nhận hàng từ khách hàng hoặc từ Công ty, vận chuyển, giao nhận hàng, thay mặt Công ty nhận các khoản cước, phí và chi phí phát sinh khác từ khách hàng và bàn giao đầy đủ lại cho Công ty vào cuối ca làm việc trong ngày. Công ty có trách nhiệm trả phí dịch vụ (sau khi đã khấu trừ thuế, phí và các khoản phải nộp khác theo quy định) cho Đinh Văn T, đây là một hình thức trả lương theo công việc. Quá trình làm việc T được cấp 01 (một) tài khoản nhân viên mã số 3098226 để đăng nhập vào ứng dụng riêng của Công ty (GHN driver) là ứng dụng để nhân viên giao hàng thực hiện thao tác cập nhật trạng thái đơn hàng, hình ảnh giao hàng, gọi người gửi, người nhận, xem thu nhập, chấm công để Công ty theo dõi giám sát.

Vào sáng ngày 28/5/2024, T nhận bàn giao theo danh sách đơn hàng từ chị Lê Thị Thúy L, sinh năm 1998, nơi cư trú: Số H T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng là nhân viên xử lý kho tại địa điểm kinh doanh số 03 (bưu cục) của Công ty Cổ phần D – Chi nhánh L1 với 91 (chín mươi mốt) đơn hàng, với trị giá 36.352.167 đồng (gồm tiền cước phát hàng và tiền COD - giao hàng thu hộ tiền) để đi giao cho khách hàng và thu tiền, sau khi nhận hàng, T có ký nhận vào ứng dụng giao hàng của Công ty thông qua tài khoản nhân viên của T trên ứng dụng GHN driver. Trong ngày 28/5/2024 T đã giao thành công 32/91 đơn hàng, thu được số tiền 23.460.901 đồng và đã xác nhận giao hàng thành công trên ứng dụng GHN driver, còn 59 đơn hàng chưa giao thành công. Lúc này, T nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền đơn hàng đã thu của Công ty nên không tiếp tục giao hàng nữa mà mang số đơn hàng giao không thành công trả lại về Công ty nhưng không giao lại số tiền 23.460.901 đồng đã thu được về Công ty theo quy định. Đến cuối ngày, sau khi không thấy T nộp tiền hàng trong ngày về lại Công ty, chị Lê Thị Thúy L đã báo cáo sự việc lại về Công ty và liên hệ với T yêu cầu T giao lại số tiền hàng đã thu ngày 28/5/2024 về cho Công ty. Tuy nhiên, T không trả lại Công ty mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền 23.460.901 đồng.

Sau khi T nghỉ việc, Công ty cổ phần D – Chi nhánh L1 đã giữ lại số tiền 1.119.823 đồng gồm tiền đặt cọc theo hợp đồng lao động và tiền lương ngày 28/5/2024 của Đinh Văn T, hiện số tiền này T đã nhận lại đầy đủ.

Ngày 30/9/2024 Đinh Văn T đã giao nộp số tiền 23.461.000 đồng cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B theo biên lai nộp tiền số 27016670 ngày 30/09/2024 tại Ngân hàng B chi nhánh B1 để khắc phục hậu quả.

2

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã tiến hành xác minh đối với 32 đơn hàng Đinh Văn T đã giao thành công, theo đó đã xác minh được 17 trường hợp khách hàng đã nhận hàng và thanh toán tiền cho Đinh Văn T và 15 trường hợp chưa xác minh thành công.

Bản Cáo trạng số: 13/CT-VKSBL, ngày 24 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Đinh Văn T về tội “Tham ô tài sản”, theo khoản 1 và khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Tham ô tài sản”. Áp dụng khoản 1 và khoản 6 Điều 353; Điều 38 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đinh Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức chuyển trả toàn bộ số tiền 23.461.000 đồng cho Công ty cổ phần D nên không xem xét.

Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, bị hại Công ty Cổ phần dịch vụ giao hàng nhanh đã nhận đủ số tiền khắc phục hậu quả, không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không xem xét.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

+ Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị L trình bày: Thống nhất với Cáo trang của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Công ty Cổ phần D đã nhận đủ số tiền từ bị cáo. Đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

+ Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của

3

Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn T đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; lời khai của bị hại, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Đinh Văn T là nhân viên giao hàng của Công ty Cổ phần D – Chi nhánh L1 theo hợp đồng dịch vụ số 3098226//HĐDV/EXP/2024 ngày 28/5/2024 được ký giữa Đại diện Công ty Cổ phần D - Chi nhánh L1, Đinh Văn T là người có chức vụ, quyền hạn giao hàng, thu nhận tiền và có trách nhiệm quản lý tài sản trước khi bàn giao đầy đủ lại cho Công ty vào cuối ca làm việc trong ngày. Vào ngày 28/5/2024 T đã thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao để nhận đơn hàng từ địa điểm kinh doanh của Công ty Cổ phần D – Chi nhánh L1; địa chỉ: Số C N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để giao cho khách hàng và thu được số tiền 23.460.901 đồng gồm: Tiền thu hộ và cước phí nhưng T không chuyển về cho Công ty theo quy định mà chiếm đoạt số tiền 23.460.901 đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, bình thường, làm mất uy tín, mất niềm tin của Công ty đối với nhân viên và khách hàng, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt số tiền 23.460.901 đồng của Công ty Cổ phần dịch vụ giao hàng nhanh bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật, nhằm mục đích tư lợi nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm nghiêm trọng gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và bị cáo có bà Trần Thị X có mối quan hệ là bà được UBND tỉnh H tặng bằng khen. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

4

[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

[8] Phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung.

[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Đuều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức chuyển trả toàn bộ số tiền 23.461.000 đồng cho Công ty Cổ phần D nhận nên không xem xét.

[10] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, bị hại Công ty Cổ phần dịch vụ giao hàng nhanh đã nhận đủ số tiền khắc phục hậu quả, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[11] Xét ý kiến phát biểu trình bày luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Tham ô tài sản”. Áp dụng khoản 1 và khoản 6 Điều 353; Điều 38 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đinh Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt thi hành án.
  2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đinh Văn T phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, người vụ liên có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đông;
  • - VKSND thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A.DS thành phố B;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về tham ô tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T tham ô hơn 20 triệu đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger