|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH Bản án số: 14/2024/DS-ST Ngày 13/6/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quế, ông Lê Bá Thành.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú – Thẩm tra viên Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 98/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 09/2024/QĐXX-DSST ngày 24 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QÐST-DS ngày 24/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1).
Địa chỉ: Số G, phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H – Tổng giám đốc.
Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Trịnh Hoàng H1. (có mặt)
Chức vụ: Nhân viên xử lý nợ - Ngân hàng TMCP S (S1).
Bị đơn: Ông Khúc Đình Q, sinh năm 1982. (vắng mặt)
Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1984. (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm E, khu phố L, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1959. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố T, phường S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai của đại diện nguyên đơn; lời khai của bị đơn có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà thì nội dung vụ án tóm tắt như sau.
Phía ông Trịnh Hoàng H1 trình bày:
Ngày 17/01/2020 giữa Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là S1) với vợ chồng ông Khúc Đình Q và bà Nguyễn Thị P có thỏa thuận và ký kết một hợp đồng tín dụng số 03/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 với thỏa thuận Ngân hàng S1 cho ông Q, bà P vay khoản tiền 400 triệu đồng để đầu tư kinh doanh, thời hạn vay 36 tháng kể từ ngày Ngân hàng giải ngân, lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng vay theo quy định của pháp luật và quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Ngày 20/01/2020 Ngân hàng đã giải ngân và vợ chồng ông Q, bà P đã nhận số tiền 400.000.000 đồng vay.
Để đảm bảo cho khoản vay này thì ngày 17/01/2020 giữa Ngân hàng với ông Q, bà P và ông Nguyễn Xuân T là bố đẻ chị P có thỏa thuận và ký với nhau một hợp đồng thế chấp số 09/2020/HĐTC-BTB/SHB.111000 với nội dung ông T thế chấp khối tài sản đứng tên quyền sử dụng cá nhân ông T gồm diện tích đất 259m² tại số thửa 120, tờ bản đồ số 12 đất có địa chỉ tại khu phố T, phường S cùng với toàn bộ tài sản trên thửa đất gồm 01 ngôi nhà và các công trình phụ trợ để bảo bảo cho việc thực hiện hợp đồng số 03/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000. Hợp đồng thế chấp được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định. Khối tài sản thế chấp được phía vợ chồng ông T xác định là tài sản riêng của ông Nguyễn Xuân T.
Đến ngày 15/5/2020 giữa ngân hàng S1 với vợ chồng ông Q, bà P lại tiếp tục ký hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 36/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 với nội dung Ngân hàng cấp cho vợ chồng ông Q, bà P mức tín dụng 1.200.000.000 đồng với thời hạn 10 tháng, lãi suất thể hiện trong hợp đồng vay theo quy định của pháp luật và quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Ngày 15/5/2020 Ngân hàng đã giải ngân và vợ chồng ông Q, bà P đã nhận số tiền vay 1.200.000.000 đồng.
Cùng ngày 15/5/2020 ba bên lại ký tiếp một phụ lục hợp đồng thế chấp số 01-09/2020/HĐTC-BTB/SHB.111000 với nội dung ông T tiếp tục thế chấp tài sản là diện tích đất 259m² tại số thửa 120, tờ bản đồ số 12 đất có địa chỉ tại khu phố T, phường S cùng với toàn bộ tài sản trên thửa đất gồm 01 ngôi nhà và các công trình phụ trợ để bảo bảo cho việc thực hiện hợp đồng số 36/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 ký ngày 15/5/2020. Phụ lục hợp đồng thế chấp cũng được công chứng theo đúng quy định của pháp luật.
Sau khi thỏa thuận phía Ngân hàng đã giải ngân tổng số tiền vay gốc là 1.600.000.000 đồng, vợ chồng ông Q, bà P đã nhận đủ tiền vay. Tuy nhiên sau đó vợ chồng ông Q, bà P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm thỏa thuận hợp đồng tín dụng. Tính đến thời điểm ngày 13/6/2024 ông Q, bà P còn nợ Ngân hàng số tiền là:
Nợ gốc: 1.099.650.000 đồng.
Nợ lãi trong hạn: 118.150.433 đồng.
Lãi quá hạn: 549.675.814 đồng.
Phí phạt: 20.105.818 đồng
Tổng số nợ là 1.787.582.065 đồng.
Nay ông H1 đại diện Ngân hàng S1 đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Q, bà P phải có nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 13/6/2024 với tổng cộng số tiền là 1.787.851.865 đồng.
Trường hợp nếu vợ chồng ông Q, bà P không không trả được nợ, đề nghị Tòa án tuyên bố Ngân hàng có quyền phát mại tài sản thế chấp là diện tích đất 259m² tại số thửa 120, tờ bản đồ số 12 đất có địa chỉ tại khu phố T, phường S cùng với toàn bộ tài sản trên thửa đất gồm 01 ngôi nhà 02 tầng và các công trình phụ trợ để thu hồi nợ.
Tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cũng như trong thời gian chuẩn bị xét xử phía Ngân hàng cung cấp cho Tòa án gồm: Các tài liệu về pháp nhân Ngân hàng; Hai hợp đồng tín dụng đã ký; Hợp đồng thế chấp tài sản và phụ lục hợp đồng thế chấp; các khế ước nhận nợ và các tài liệu chứng cứ khác.
Phía vợ chồng ông Khúc Đình Q, bà Nguyễn Thị P:
Ông Q, bà P là người có địa chỉ cư trú và HKTT tại khu phố L, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Trong thời gian chuẩn bị xét xử Tòa án đã thông báo cho ông Q, bà P đến làm việc nhưng ông Q, bà P vắng mặt. Qua xác minh thì xác định được ông Q bà P không còn cư trú tại địa phương nhưng vẫn có hộ khẩu thường trú tại phường H, vợ chồng ông Q, bà P cũng không xin tạm vắng. Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết các thông báo làm việc của Tòa án cho vợ chồng ông Q, bà P. Tiến hành thông tin thông báo trên Đài tiếng nói Việt Nam thông bán cho vợ chồng ông Q, bà P lịch làm việc tại Tòa nhưng vợ chồng ông Q, bà P đều vắng mặt.
Phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Xuân T trình bày:
Ông là bố đẻ của chị Nguyễn Thị P. Thời điểm vợ chồng anh Q, chị P cần tiền vốn để làm ăn có vay tín dụng của Ngân hàng S1, khi vay ông có dùng khối tài sản là diện tích đất 259m² tại số thửa 120, tờ bản đồ số 12 đất có địa chỉ tại khu phố T, phường S cùng với toàn bộ tài sản trên thửa đất gồm 01 ngôi nhà 02 tầng và các công trình phụ trợ để thế chấp bảo đảm cho khoản vay của vợ chồng anh Q, chị P. Trong thời gian chuẩn bị xét xử Tòa án cũng đã nhiều lần thông báo cho ông T đến Tòa làm việc nhưng ông T đều vắng mặt, ông T cũng vắng mặt tại phiên tòa xét xử. Theo tài liệu chứng cứ phía Ngân hàng cung cấp thì diện tích đất 259m² tại số thửa 120, tờ bản đồ số 12 đất có địa chỉ tại khu phố T, phường S cùng tài sản trên đất đã được phía vợ chồng ông T xác nhận là tài sản riêng của ông T. Tòa án cũng đã tiến hành thủ tục xem xét thẩm định hiện trạng tài sản thế chấp thì xác định được tài sản thế chấp không có biến động so với thời điểm các bên ký thỏa thuận thế chấp tài sản.
Tại phiên tòa đại diện Nguyên đơn tham gia tố tụng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Q, bà P phải có nghĩa vụ trả số tiền nợ đã vay cùng với lãi suất theo thỏa thuận tính đến thời điểm ngày 13/6/2024 là 1.787.582.065 đồng. Trường hợp vợ chồng ông Q, bà P không trả được nợ thì đề nghị Tòa án tuyên bố Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự kê biên phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Phía vợ chồng ông Q, bà P và ông Nguyễn Xuân T vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong thời gian chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng khác cũng như nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có vi phạm cần kiến nghị khắc phục. Đối với bị đơn đã được Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết, thủ tục đăng thông tin trên Đài tiếng nói Việt Nam giấy báo làm việc, thông báo họp công khai chứng cứ và hòa giải cũng như thông báo về lịch xét xử vụ kiện nhưng bị đơn đều vắng mặt nên HĐXX đưa vụ án ra xét xử vắng vợ chồng ông Q, bà P là có căn cứ. Đối với ông T vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông T là có căn cứ.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía Ngân hàng. Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 147, 207, 227, 228, 235, 264, 266, 267, 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Các Điều 463, 466, 468 của Bộ Luật dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án xử buộc vợ chồng ông Q, bà P phải trả Ngân hàng số tiền nợ cả gốc và lãi là 1.787.582.065 đồng đồng. Trường hợp không trả được nợ đề nghị tuyên Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Q, bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định tài sản. Phía Ngân hàng phải chịu chi phí thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng.
Từ nội dung trên:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Xem xét tài liệu chứng cứ do các bên đương sự cung cấp cũng như chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án:
[1]. Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S (S1) đối với vợ chồng ông Khúc Đình Q, bà Nguyễn Thị P đề nghị Toà án giải quyết buộc ông Q, bà P phải trả lại số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng là tranh chấp về hợp đồng được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Phía ông Q, bà P có nơi cư trú tại thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, do vậy việc Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung tranh chấp:
[2.1]. Ngày 17/01/2020 Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là ngân hàng S1) với vợ chồng ông Khúc Đình Q và bà Nguyễn Thị P đã thỏa thuận và đi đến ký kết một hợp đồng tín dụng số 03/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 với thỏa thuận ngân hàng cho ông Q, bà P vay khoản tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng kể từ ngày giải ngân. Về lãi suất hai bên cũng thỏa thuận lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt theo đúng quy định của Bộ Luật dân sự cũng như quy định tại Luật các tổ chức tín dụng. Ngày 20/01/2020 vợ chồng ông Q, bà P đã nhận đủ số tiền 400.000.000 đồng vay theo hợp đồng.
Ngày 15/5/2020 ngân hàng S1 và vợ chồng ông Q, bà P lại tiếp tục thực hiện thỏa thuận hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 36/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 và phụ lục hợp đồng số PL01-36/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 ký ngày 11/11/2020 với nội dung Ngân hàng cấp cho vợ chồng ông Q, bà P mức tín dụng 1.200.000.000 đồng với thời hạn 10 tháng, lãi suất thể hiện trong hợp đồng vay theo quy định của pháp luật và quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Cùng ngày 15/5/2020 vợ chồng ông Q, bà P cũng đã nhận đủ số tiền vay 1.200.000.000 đồng.
[2.2]. Để đảm bảo cho khoản vay tín dụng trên, ngày 17/01/2020 giữa Ngân hàng với vợ chồng ông Q, bà P và ông Nguyễn Xuân T đã thống nhất ký hợp đồng thế chấp số 09/2020/HĐTC-BTB/SHB.111000 và ngày 15/5/2020 tiếp tục ký phụ lục hợp đồng thế chấp số 01-09/2020/HĐTC-BTB/SHB.111000 với nội dung ông T thế chấp tài sản là diện tích đất 259m² tại số thửa 120, tờ bản đồ số 12 đất có địa chỉ tại khu phố T, phường S cùng với toàn bộ tài sản trên thửa đất gồm 01 ngôi nhà 02 tầng và các công trình phụ trợ để bảo bảo cho việc thực hiện hợp đồng tín dụng số 03/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 ký ngày 17/01/2020 và hợp đồng số 36/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 ký ngày 15/5/2020. Cả hợp đồng thế chấp và phụ lục hợp đồng thế chấp đều được công chứng theo đúng quy định của pháp luật và được đăng ký thế chấp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy xác định được giữa vợ chồng ông Q, bà P với Ngân hàng TMCP S1 đã thiếp lập 02 hợp đồng tín dụng. Các hợp đồng này đều do các bên tự nguyện, hợp đồng đảm bảo thủ tục hình thức theo quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý để thực hiện.
[2.3]. Đối với việc ký và thực hiện hợp đồng thế chấp cũng như ký phụ lục thế chấp tài sản để đảm bảo cho 02 khoản vay tín dụng giữa Ngân hàng. Vợ chồng ông Q, bà P và ông T cũng đều được thực hiện do sự thỏa thuận tự nguyện giữa ba bên. Tài sản thế chấp là tài sản cá nhân, tài sản riêng của ông T và đứng tên quyền sử dụng riêng của ông T. Việc tài sản đứng tên cá nhân ông T đã được thể hiện tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và văn bản cam kết của vợ ông T là bà Bùi Thị L. Hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản có chứng thực của công chứng Nhà nước và đã tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm nên có giá trị thực hiện.
[2.4]. Sau khi ký hợp đồng tín dụng phía vợ chồng ông Q, bà P đã được phía Ngân hàng giải ngân và nhận đủ số tiền vay 1.600.000.000 đồng. Tuy nhiên sau đó đến hạn trả nợ nhưng phía vợ chồng ông Q, bà P đã vi phạm nghĩa vụ không thực hiện đúng việc trả nợ theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng đã ký. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía Ngân hàng TMCP S, buộc vợ chồng ông Q, bà P phải có nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 13/6/2024 là 1.787.582.065 đồng, trong đó.
Nợ gốc: 1.099.650.000 đồng.
Nợ lãi trong hạn: 118.150.433 đồng.
Lãi quá hạn: 549.675.814 đồng.
Phí phạt: 20.105.818 đồng.
Về lãi suất chậm thi hành án: Vợ chồng ông Q, bà P tiếp tục phải trả khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc đã vay theo lãi suất đã được hai bên thống nhất tại hợp đồng tín dụng đã ký đến khi vợ chồng Q, bà P thanh toán hết số tiền nợ gốc cho Ngân hàng. Trường hợp vợ chồng ông Q, bà P không trả được nợ phía Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
[3]. Về án phí, chi phí thẩm định tài sản: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP S1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Vợ chồng ông Q, bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và phải chịu cả chi phí thẩm định tài sản.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 147, 207, 227, 228, 235, 264, 266, 267, 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Các Điều 463, 466, 468 của Bộ Luật dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1, khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Khúc Đình Q, bà Nguyễn Thị P phải trả khoản nợ theo các hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký.
2. Buộc vợ chồng ông Khúc Đình Q, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng TMCP S (S1) số tiền nợ tính đến ngày 13/6/2024 theo các hợp đồng tín dụng số 03/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 ký ngày 17/01/2020 và hợp đồng tín dụng số 36/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 ký ngày 15/5/2020; phụ lục hợp đồng số PL01-36/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 ký ngày 11/11/2020 với số tiền nợ gốc là 1.099.650.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 118.150.433 đồng, lãi quá hạn 549.675.614 đồng, phí phạt: 20.105.818 đồng. Tổng số tiền cả gốc và lãi vợ chồng ông Khúc Đình Q, bà Nguyễn Thị P phải trả Ngân hàng TMCP S1 là 1.787.582.065 đồng (Một tỷ, bảy trăm tám mươi bảy triệu, năm trăm tám hai ngàn, không trăm sáu năm đồng).
Vợ chồng ông Q, bà P tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số 03/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 ký ngày 17/01/2020 và hợp đồng tín dụng số 36/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 ký ngày 15/5/2020; phụ lục hợp đồng số PL01-36/2020/HĐTDTDH-CN/SHB.111000 ký ngày 11/11/2020, tương ứng với số tiền nợ gốc còn lại đến khi trả xong số tiền nợ.
3. Trường hợp vợ chồng ông Q, bà P không trả được số tiền nợ cho Ngân hàng, phía Ngân hàng S có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự kê biên phát mại toàn bộ tài sản thế chấp là diện tích đất 259m² tại số thửa 120, tờ bản đồ số 12 đất có địa chỉ tại khu phố T, phường S cùng với toàn bộ tài sản trên thửa đất gồm 01 ngôi nhà và các công trình phụ trợ đứng tên sử dụng là ông Nguyễn Xuân T để thi hành án.
2. Về án phí, chi phí thẩm định tài sản: Ngân hàng TMCP S1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả Ngân hàng TMCP S1 số tiền 29.938.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0003162 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Vợ chồng ông Q, bà P phải chịu 54.636.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 2.000.000 đồng tiền chi phí thẩm định tài sản. Ngân hàng S1 phải chịu 3.000.000 đồng chi phí thông tin trên Đài tiếng nói Việt Nam.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận - TAND tỉnh Bắc Ninh. - VKSND thị xã Thuận Thành. - Chi cục THADS thị xã Thuận Thành. - Các đương sự. - Lưu hồ sơ. |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Sỹ Cây |
Bản án số 14/2024/DS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Số bản án: 14/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng S với ông Q, bà Ph
