|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 134/2024/HS-ST Ngày: 17-9-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Tuấn Tú.
- Bà Nguyễn Thị Kim Huế.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2024/TLST- HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Minh T, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 24/12/1982, tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A B, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Hoàng Minh Đ (đã chết) và bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1943; có vợ: Đặng Thị Bích T1, sinh năm 1979 (đã ly hôn), con: Có 01 con, sinh năm 2010; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 05/9/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 12/8/2021, chưa chấp hành phần án phí, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
+ Bị hại:
- - Anh Nguyễn Sơn L1, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1973; địa chỉ: Số C T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Lê Văn N, sinh năm 1982; địa chỉ: Số A đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- - Chị Trần Thị Ngọc P, sinh năm 1982; địa chỉ: Số G đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- - Chị Phạm Thị Thúy H, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
+ Người làm chứng:
- - Anh Vũ Đặng Minh T3, sinh năm 2002; địa chỉ: Số H T, Tổ C, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Minh T là đối tượng đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích. Vào ngày 15/4/2024 và ngày 16/4/2024, Hoàng Minh T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của công dân trên địa bàn phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, cụ thể như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 15/4/2024, Hoàng Minh T điều khiển xe mô tô Suzuki biển số 49N8-3638 chở theo sau Lê Văn N, sinh năm 1982, nơi thường trú: Số A đường A phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, khi đi đến khu vực G ôtô của bà Phạm Thị Thanh P1, sinh năm 1973, ở trên đường H, phường L, thành phố B, T và N phát hiện có 01 chiếc mâm xe ô tô bằng kim loại đang để trong bãi đất của Garage ôtô và không có người trông coi, T và N nảy sinh ý định trộm cắp chiếc mâm xe trên. Thực hiện ý định, T điều khiển xe mô tô lại gần nơi để chiếc mâm xe ô tô, còn N xuống xe quan sát xung quanh thấy không có người nên đã bê chiếc mâm xe ô tô rồi leo lên xe để T chở đi. Sau đó cả hai đi đến Cửa hàng mua bán phế liệu của chị Phạm Thị Thúy H, sinh năm 1981, địa chỉ; Số A T, phường L, thành phố B, bán được 215.000đ, số tiền này T và N đã cùng nhau tiêu xài cá nhân hết. Quá trình điều tra đã xác định được chiếc mâm xe ô tô là của anh Nguyễn Sơn L1, sinh năm 1997, nơi thường trú: thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng là người làm thuê trong Garage ô tô của chị P1, anh L1 xin chị P1 cho để nhờ chiếc mâm xe ô tô trong bãi đất của G để anh L1 vừa làm việc vừa thuận lợi trong việc tự quản lý và sửa chữa lại chiếc mâm xe ô tô của mình.
Khoảng 09 giờ 00 phút sáng ngày 16/4/2024, Hoàng Minh T tiếp tục điều khiển xe mô tô Suzuki biển số 49N8-3638 chở theo Lê Văn N đi vào khu vực đường H, phường L, thành phố B, khi đi đến khu vực thửa đất tại địa chỉ số C H, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng của ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1973 thì T và N phát hiện có 01 cây kèo sắt được hàn từ 02 cây sắt hộp đang gác trên tường rào và không có người trông coi nên tiếp tục nảy sinh ý định trộm cắp. Sau đó, T xuống khỏi xe, trèo lên tường rào và kéo cây kèo qua tường rào ra ngoài đưa cho N giữ rồi T trèo xuống và điều khiển xe mô tô chở N mang theo cây kèo đi về hướng đường tránh Quốc lộ B, phường B, thành phố B với mục đích tìm chỗ để bán. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi T và N đang chở cây kèo sắt di chuyển trên đường H về hướng đường tránh Quốc lộ B thì gặp anh Nguyễn Sơn L1 và anh Vũ Đặng Minh T3, sinh năm 2002, nơi thường tú: Số H T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, lúc này anh L1 và anh T3 phát hiện Hoàng Minh T cùng với Lê Văn N có đặc điểm giống 02 người đã lấy trộm chiếc mâm xe ô tô của anh L1 để ở G ôtô trên đường H, phường L, thành phố B vào ngày 15/4/2024 đã bị camera ghi lại nên chặn lại hỏi thì N và T thừa nhận đã trộm cắp 01 chiếc mâm xe ô tô trước đó. Sau đó anh L1 và anh T đã báo Công an phường L, thành phố B đến làm việc.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 kèo sắt mạ kẽm được hàn từ 02 cây sắt hộp có kích thước (4 x 8 x 0,14cm); chiều dài 4,48m x 2-8,96m, chiều ngang 33cm dày 0,14cm, màu xám có giá trị là 434.000 đồng; 01 mâm (vành) xe ô tô bằng kim loại nặng 33,75kg, đường kính ngoài 58cm, đường kính trong 50cm, chiều cao 27cm có giá trị 633.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 1.067.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 130/CT-VKSBL, ngày 26 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Hoàng Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Minh T từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra Cơ Công an thành phố B đã thu giữ và ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại tài sản cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Sơn L1 01 mâm xe ô tô và ông Nguyễn Minh T2 01 kèo sắt mạ kẽm và chị Trần Thị Ngọc P 01 xe mô tô biển số 49N8-3638 nên không xem xét.
Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra bị hại anh Nguyễn Sơn L1 đã nhận lại 01 mâm xe ô tô và anh Nguyễn Minh T2 đã nhận lại 01 kèo sắt mạ kẽm không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không xem xét. Chị Phạm Thị Thúy H không yêu cầu bị cáo và anh N bồi thường số tiền 215.000đ là tiền mua lại 01 mâm xe ô tô nên không xem xét.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự.
+ Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Thúy H trình bày: Chị đã mua lại 01 mâm xe ô tô của bị cáo và anh N với giá là 215.000 đồng, chị không biết tài sản do trộm cắp mà có. Chị không yêu cầu bị cáo và anh N bồi thường số tiền này.
+ Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Hoàng Minh T đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Hoàng Minh T là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Vào các ngày 15/4/2024 và 16/4/2024 trên địa bàn phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Hoàng Minh T cùng anh Lê Văn N đã 02 lần thực hiện hành trộm cắp tài sản gồm: 01 mâm xe ô tô trị giá 633.000 đồng của anh Nguyễn Sơn L1 và 01 kèo sắt trị giá 434.000 đồng của ông Nguyễn Minh T2. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 1.067.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã bị kết án, chưa được xóa án tích, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường pháp luật, do lười lao động lấy việc trộm cắp tài sản của người khác nhằm mục đích thoả mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội ở địa phương và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
[8] Phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn phạt bổ sung.
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra Cơ quan Công an thành phố B đã thu giữ và ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại tài sản cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Sơn L1 01 mâm xe ô tô và ông Nguyễn Minh T2 01 kèo sắt mạ kẽm và chị Trần Thị Ngọc P 01 xe mô tô biển số 49N8-3638 nên không xem xét.
[10] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra bị hại anh Nguyễn Sơn L1 đã nhận lại 01 mâm xe ô tô và ông Nguyễn Minh T2 đã nhận lại 01 kèo sắt mạ kẽm không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không xem xét. Chị Phạm Thị Thúy H không yêu cầu bị cáo và anh N bồi thường số tiền 215.000đ là tiền mua lại 01 mâm xe ô tô nên không xem xét.
[11] Các vấn đề khác:
Đối với Lê Văn N là đối tượng cùng Hoàng Minh T 02 lần trộm cắp tài sản là 01 mâm xe ô tô của anh Nguyễn Sơn L1 và 01 kèo sắt của ông Nguyễn Minh T2 vào các ngày 15/4/2024 và 16/4/2024. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Lê Văn N đã được xóa án tích đối với các bản án trước đó. Do đó hành vi của Lê Văn N chưa đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Văn N về hành vi trộm cắp tài sản.
Đối với chị Trần Thị Ngọc P là người cho Hoàng Minh T và Lê Văn N mượn chiếc xe mô tô 49N8-3638 để đi trộm cắp tài sản vào ngày 15 và ngày 16/4/2024. Quá trình điều tra đã xác định: Khi cho mượn xe chị P không biết T và N sử dụng vào việc phạm tội nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
Đối với chị Phạm Thị Thúy H là người đã mua chiếc mâm xe ô tô do Hoàng Minh T trộm cắp của anh Nguyễn Sơn L1. Quá trình điều tra xác định: Khi mua chiếc mâm xe ô tô chị H không biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
[12] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[13] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Minh T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về .... án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng Minh T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
6
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T trôm cắp có tổng giá trị tài sản là 1.067.000 đồng.
