Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 133/2024/HS-ST

Ngày: 17-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Tuấn Tú.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Huế.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/TLST- HS ngày 26 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Tần Đình N, tên gọi khác: Không, sinh ngày 22/11/1984, tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số B M, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Tần Đình H, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Lê Thị H1, sinh năm 1963; có vợ: Hoàng Thị T, sinh năm 1987 (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

+ Bị hại: Anh Cao Trọng P, sinh năm 1999; địa chỉ: Xóm B, thôn F, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

+ Người làm chứng:

  • - Cháu Tần Hoàng Nhật Đ, sinh ngày 22/8/2011. Đại diện hợp pháp của cháu Đ: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1987; cùng địa chỉ: Số A Hà Giang, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mối quan hệ là mẹ đẻ.
  • - Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1987; địa chỉ: Số A Hà Giang, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2009, Tần Đình N sinh năm 1984, thường trú tại số B M, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng kết hôn với bà Hoàng Thị T, sinh năm 1987, thường trú tại hẻm S T, phường L, thành phố B, quá trình chung sống có 01 người con chung tên là Tần Hoàng Nhật Đ sinh năm 2011. Đến tháng 8/2022 N và bà T xảy ra mâu thuẫn với nhau nên đã yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ngày 18/12/2023 TAND thành phố Bảo Lộc ban hành Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án (Quyết định thuận tình ly hôn). Sau khi ly hôn bà T thuê nhà trọ ở số A Hà Giang, phường L, thành phố B để chung sống cùng con là Tần Hoàng Nhật Đ. Sáng ngày 11/02/2024 N điều khiển xe mô tô màu đỏ biển số 49K1-865.83 đến phòng trọ của bà T để đón cháu Đ đi chúc tết ở xã L, thành phố B. Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, N chở cháu Đ về lại phòng trọ. Tại đây N nhìn thấy anh Cao Trọng P sinh năm 1999, thường trú tại xóm B, thôn F, xã Đ, thành phố B đang đứng trước dãy nhà trọ, N nghĩ người trông giống bạn trai của bà T là người thường xuyên nhắn tin xúc phạm N nên N dừng xe mở cốp xe mô tô lấy 01 con dao Thái Lan dài 20cm tiến đến vị trí của anh Cao Trọng P đang ngồi trên xe mô tô rồi dùng dao đâm 01 nhát trúng vào vùng ngực phải của anh P, 01 nhát trúng vào vai phải của anh P, bị đâm anh P bước xuống xe và cúi người xuống thì N tiếp tục dùng dao đâm 01 nhát trúng vào vùng lưng của anh P. Sau khi gây thương tích cho anh Cao Trọng P, Tần Đình N thấy nhầm người nên đã tự nguyện đến Công an phường L, thành phố B để tự thú còn anh P được mọi người đưa đi cấp cứu.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 287/KLTTCT-PYLĐ ngày 22/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định: Cao Trọng P bị sẹo ngực phải, sẹo vai phải, sẹo giữa lưng phải, sẹo dẫn lưu dưới nách phải, tổn thương phổi, vết thương gan (rách gan – đụng đập), tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 17%, tổn thương do vật sắc nhọn gây nên.

Bản Cáo trạng số 129/CT-VKS, ngày 16 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Tần Đình N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tần Đình N phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tần Đình N từ 30 tháng đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tống tụng hình sự.

Quá trình điều tra Cơ quan Công an thành phố B đã thu giữ: 01 con dao thái lan dài 20cm, 01 áo khoác màu đen có chữ BUT JOUDYSL WENOU. Đối với 01 con dao của bị cáo là vật chứng, chứng minh tội phạm và 01 áo khoác màu đen là tài sản của bị hại, bị hại đề nghị tịch thu tiêu hủy nên ghi nhận.

Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra Tần Đình N đã bồi thường cho anh Cao Trọng P số tiền 80.000.000 đồng, anh P không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự nên không xem xét.

2

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

+ Bị cáo đã khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại gì đối với Bản cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp gì với Kiểm sát viên.

+ Bị hại anh P trình bày: Thống nhất với tội danh, điều luật, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố và luận tội. Anh P đã nhận từ bị cáo 80.000.000đ, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

+ Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, xin lỗi bị hại, đề nghị HĐXX xem xét, xử phạt mức hình phạt thấp nhất và được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi cấu thành tội phạm thể hiện: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Tần Đình N đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; bản ảnh vật chứng; kết luận giám định pháp y về thương tích; lời khai của bị hại, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ, chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 11/02/2024, tại khu vực nhà trọ ở số A Hà Giang, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, xuất phát từ việc ghen tuông nên Tần Đình N đã có hành vi sử dụng hung khí là 01 con dao thái lan dài 20cm đâm nhiều nhát trúng: ngực phải, vai, lưng của anh Cao Trọng P gây thương tích. Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 287/KLTTCT-PYLĐ ngày 22/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 17% (mười bảy phần trăm), do vật sắc gây nên.

Hành vi của bị cáo Tần Đình N đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

3

  1. Tính chất, mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là sức khoẻ, tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm nhiều nhát gây thương tích cho bị hại là anh P, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17%, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm nghiêm trọng, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
  2. Về nhân thân: Bị cáo có nhân tốt.
  3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn hối cải; đã bồi thường thiệt; tự thú; phạm tội lần đầu và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  5. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải bắt đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình giáo dục là phù hợp. Vì vậy, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo cũng đủ răn đe, phòng ngừa.
  6. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng vụ án như sau: Quá trình điều tra Cơ quan Công an thành phố B đã thu giữ: 01 con dao thái lan dài 20cm, 01 áo khoác màu đen có chữ BUT JOUDYSL WENOU. Đối với 01 con dao của bị cáo là vật chứng, chứng minh tội phạm và 01 áo khoác màu đen là tài sản của bị hại, bị hại đề nghị tịch thu tiêu hủy nên ghi nhận.
  7. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo Tần Đình N đã bồi thường cho anh Cao Trọng P số tiền 80.000.000 đồng. Tại phiên tòa anh P không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
  8. Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
  9. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

4

  1. Tuyên bố bị cáo Tần Đình N phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Tần Đình N 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Tần Đình N cho Ủy ban nhân dân U, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án hình sự được thực hiện theo Luật Thi hành án Hình sự.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách. “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự”.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao thái lan dài 20cm và 01 áo khoác màu đen có chữ BUT JOUDYSL WENOU. Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 20/8/2024 giữa Cơ quan Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
  2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Tần Đình N phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đông;
  • - VKSND thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A..DS thành phố B;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 133/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N gây thương tích, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 17%
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger