|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày: 22-01-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ và bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 200/2024/TLST- HS ngày 30 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thanh N, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 24/4/1994, tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nơi tạm trú và cư trú: Số A T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1969 và bà Võ Thị N2, sinh năm 1969; có vợ: Nguyễn Thị Thu D, sinh năm 1997, con: Có 01 con, sinh năm 2021; tiền sự: Không.
Tiền án:
- + Ngày 23/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 43/2020/HS-ST, chưa được xóa án tích.
- + Ngày 08/02/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 24 tháng tù của bản án số: 43/2020/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng là 03 năm 06 tháng, chấp hành án xong hình phạt tù ngày 13/8/2023, chưa được xóa án tích.
- Nhân thân: Ngày 05/9/2011 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 41/2011/HS-ST, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 15/10/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Cảnh L, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 03/01/1997, tại tỉnh Bến Tre; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; cha, mẹ ruột: Không rõ nhân thân, lai lịch; mẹ nuôi bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 69/2021/HS-ST. Chấp hành án xong toàn bộ bản án ngày 12/9/2022, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 18/10/2024 cho đến nay. Có mặt.
+ Bị hại: Chị Lưu Hoàng Thúy H, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều 13/10/2024, chị Lưu Hoàng Thúy H, sinh năm 2003, Nơi cư trú: thôn E, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng điều khiển xe mô tô đến nhà anh K, địa chỉ: thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng để bán xe cho anh K do hai bên đã liên hệ giao dịch từ trước. Tại đây, chị H gặp Nguyễn Cảnh L, sinh năm 1997, nơi cư trú: thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Đến tối cùng ngày chị H và L cùng ở lại và ngủ lại tại nhà anh K, lúc này L thấy chị H sử dụng hai chiếc điện thoại di động nên nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại của chị H nhưng do chị H ngủ phòng riêng nên L không thực hiện được ý định lấy trộm điện thoại của chị H.
Đến khoảng 06 giờ 00 phút sáng ngày 14/10/2024, Nguyễn Thanh N, sinh năm 1994, nơi cư trú: thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng đến nhà anh K để gặp L. Lúc này, L nói với Nghĩa là chị H có hai chiếc điện thoại di động và bàn bạc với N tìm cách lấy trộm hai chiếc điện thoại của chị H thì N đồng ý. Sau đó, L và N rủ chị H đi uống cà phê, mục đích tìm sơ hở để trộm cắp hai chiếc điện thoại của chị H nhưng không được. Do đó N và L nói với chị H là muốn mua chiếc xe mô tô của chị H với giá 4.000.000 đồng và rủ chị H đi đến nhà nghỉ H1, địa chỉ: số A L, phường L, thành phố B là nơi N đang thuê ở để đợi nhận tiền, chị H đồng ý. Khoảng hơn 07 giờ 00 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô chở L và chị H đến nhà nghỉ H1, lúc này N và L bàn bạc với nhau L sẽ chạy xe mô tô của N về phòng trọ của N ở địa chỉ: số A T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để đợi, còn N ở lại với chị H tìm cơ hội để trộm cắp hai chiếc điện thoại di động. Sau đó, L điều khiển xe mô tô của N đi về, còn N và chị H đi vào phòng số 07 của nhà nghỉ H1 mà N đã thuê ở trước đó, lúc này lợi dụng lúc chị H đi vào trong nhà vệ sinh đóng cửa lại, N đã lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A10S chị H đang sạc để trên chiếc ghế trong phòng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Poco X3 NFC của chị H để trong ba lô đang để dưới sàn nhà. Sau khi lấy được 02 chiếc điện thoại di động nêu trên, N rời khỏi nhà nghỉ H1 đi về phòng trọ của mình để gặp Nguyễn Cảnh L. Lúc này N nói L đã lấy trộm được 02 chiếc điện thoại của chị H. Sau đó L và N chia nhau, N quản lý chiếc Xiaomi Poco X3 NFC để sử dụng, còn L quản lý chiếc điện Sam Sung Galaxy A10S.
Đến tối ngày 14/10/2024, Công an phường L kiểm tra hành chính tại phòng trọ của N ở, địa chỉ: số A T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Thời điểm này, có cả L và N đang có mặt tại phòng trọ. Qua vận động N giao nộp chiếc Xiaomi Poco X3 NFC, còn L giao nộp chiếc điện Sam Sung Galaxy A10S và thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 89/KL-HĐGTS ngày 17/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Giá trị của chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A10S là 1.367.000 đồng, giá trị của chiếc điện thoại di động Xiaomi Poco X3 NFC là 867.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 2.234.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 15/CT-VKSBL, ngày 30 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh N và Nguyễn Cảnh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh N và Nguyễn Cảnh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, 38 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh L từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra Cơ Công an thành phố B đã thu giữ, ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại tài sản cho chủ sở hữu là chị Lưu Hoàng Thúy H 01 thoại di động Samsung Galaxy A10S và 01 điện thoại di động Xiaomi Poco X3 NFC nên không xem xét.
Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh N đã tác động đến gia đình để bồi thường cho chị Lưu Hoàng Thúy H số tiền 2.300.000đ. Tại phiên tòa, chị H không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- + Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
- + Bị hại chị H trình bày: Thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa. Chị đã nhận lại tài sản và nhận bồi thường từ gia đình bị cáo N, không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự. Đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N và bị cáo L.
- + Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin lỗi bị hại. Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thanh N và Nguyễn Cảnh L đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Nguyễn Thanh Nghĩa là đã bị kết án, chưa được xóa án tích. Vào ngày 14/10/2024 N cùng với Nguyễn Cảnh L đã bàn bạc thống nhất với nhau và lén lút trộm cắp 02 chiếc điện thoại di động của chị Lưu Hoàng Thúy H tại phòng số 7, nhà nghỉ H1, địa chỉ: số A L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 2.234.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật và do lười lao động lấy việc trộm cắp tài sản của người khác nhằm mục đích thoả mãn cho nhu cầu của bản thân nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội ở địa phương và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo N có nhân thân rất xấu, bị cáo L có nhân thân xấu.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi, trả lại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo N đã tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại cho bị hại. Vì vậy, cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo N được áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 08/02/2021, Nguyễn Thanh N bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 18 tháng tù của bản án 43/2020/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 06 tháng tù, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Vụ án có đồng phạm nên cần xem xét tính chất, mức độ của từng bị cáo như sau: Các bị cáo đều có sự bàn bạc thống nhất với nhau để thực hiện tội phạm nên tính chất, mức độ của các bị cáo bằng nhau.
[8] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
[9] Phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập nên miễn phạt bổ sung.
[10] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra Cơ quan Công an thành phố B đã thu giữ, ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại tài sản cho chủ sở hữu là chị Lưu Hoàng Thúy H 01 thoại di động Samsung Galaxy A10S và 01 điện thoại di động Xiaomi Poco X3 NFC nên không xem xét.
[11] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh N đã tác động đến gia đình để bồi thường cho chị Lưu Hoàng Thúy H số tiền 2.300.000đ. Tại phiên tòa, chị H không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[12] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[13] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh N và Nguyễn Cảnh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/10/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, 38 và điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/10/2024, được trừ ngày tạm giữ từ ngày 15/10/2024 đến ngày 16/10/2024.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh N và Nguyễn Cảnh L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: N và L trộm cắp được đt di động
