Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HSST

Ngày 21/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hoàng Long, bà Bùi Thị Lợi.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thập - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa:

Bà Đoàn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/HSST ngày 28 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 8 tháng 11 năm 2024 đối với:

Bị cáo Nguyễn Trọng L, sinh năm 1991.

Tên gọi khác: Không.

HKTT: Thôn X, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên bố: Nguyễn Trọng T, sinh năm 1962 (đã chết). Họ và tên mẹ: Lê Thị T1, sinh năm 1963. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 4. Vợ: Lê Thị B, sinh năm 1999. Con: Có 01 con trai sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/06/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Phạm Đình V, sinh năm 1994. (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02/06/2024, tại phòng 202 nhà nghỉ H2 thuộc khu phố Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh do ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976 ở cùng khu phố Đ làm chủ. Tổ công tác Công an thị xã T bắt quả tang Nguyễn Trọng L, sinh năm 1991 ở thôn X, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Phạm Đình V, sinh năm 1994 ở khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tại thời điểm bắt quả tang còn có Hà Thị H1, sinh năm 1996 ở làng Ô, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai có mặt trong phòng.

Quá trình bắt quả tang, tổ công tác đã thu giữ trên mặt bàn kê giáp tường phía tây cạnh nhà vệ sinh trong phòng 202 vị trí các đối tượng sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu tím có nhãn hiệu Chanh dây 360, nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ, trong đó một lỗ có gắn cóong thủy tinh màu trắng, bên trong cóong thủy tinh bám dính chất màu nâu đen, lỗ còn lại gắn ống hút nhựa màu xanh, tổ công tác tiến hành niêm phong coóng thủy tinh màu trắng bên trong bám dính chất màu nâu đen vào trong phong bì thư ký hiệu M1; 01 túi nilon màu trắng viền kẻ màu xanh bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2; 02 bật lửa gas màu đỏ; 01 túi nilon màu đỏ; 01 điện thoại Iphone 11 promax màu xám, gắn sim số 0353.161.136 do L tự nguyện giao nộp.

Sau khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra nước tiểu của L, V và chị H1, kết quả: mẫu nước tiểu của L, V dương tính với ma túy M còn mẫu nước tiểu của chị H1 cho kết quả âm tính với ma túy.

Ngày 02/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T ra Quyết định trưng cầu giám định số 1095 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định chất màu nâu đen bám dính trong 01 coóng thủy tinh màu trắng được niêm phong trong phong bì thư kí hiệu M1; Chất tinh thể màu trắng bám dính trong túi nilon màu trắng, viền kẻ xanh được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2. Tại Kết luận giám định số 1351/KL-KTHS ngày 04/06/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Chất màu nâu đen bám dính bên trong 01 coóng thủy tinh màu trắng (trong phong bì thư ký hiệu M1) và chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong 01 túi nilon màu trắng (trong phong bì thư ký hiệu M2) đều là ma túy, loại ma túy Methamphetamine; Không xác định được khối lượng. Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại Cơ quan CSĐT cũng như tại phiên tòa L khai nhận như sau:

L sử dụng ma túy đá từ tháng 04/2024 đến nay. Qua quan hệ xã hội L quen biết với một người tên T2, sinh năm 1999, ở thị xã T (L không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của T2) là người cũng sử dụng ma túy đá như L. Khoảng 12 giờ ngày 02/06/2024, T2 sử dụng tài khoản zalo của T2 có tên hiển thị “Em Thăng Bắc N” được đăng ký bằng số điện thoại 0936.782.xxx nhắn tin vào tài khoản zalo của L được đăng ký bằng số điện thoại 0353.161.xxx của L và hẹn gặp L ở khu vực ngã tư Đ, phường H, thị xã T để cùng nhau sử dụng ma túy. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi T2 đang đi bộ ở khu vực ngã tư Đ thuộc khu phố Đ, phường H gặp L. Tại đây, T2 đưa cho L 01 túi nilon màu đỏ, L mở túi ra thấy bên trong có 01 chai nhựa màu tím có nhãn hiệu Chanh dây 360, nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ, trong đó một lỗ có gắn cóong thủy tinh màu trắng, một lỗ gắn ống hút nhựa màu xanh; 02 bật lửa gas màu đỏ và 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu xanh bên trong có chất tinh thể màu trắng. L biết đây là túi ma túy đá và bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên cầm ở lòng bàn tay phải. Tiếp đó, T2 bảo L đi thuê phòng nghỉ để T2 đi đón bạn về phòng rồi cùng nhau sử dụng ma túy. L đi vào nhà nghỉ H2 ở khu phố Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để thuê phòng nghỉ. Khi vào, L gặp anh H hỏi thuê một phòng để nghỉ thì được anh H đồng ý. Anh H sắp xếp cho L phòng 202 và đưa chìa khóa phòng cho L, L cầm chìa khóa và đi lên phòng 202.

Khi vào phòng, L để túi nilon màu đỏ bên trong có chứa túi ma túy đá, 02 bật lửa gas màu đỏ và bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên trên mặt bàn kê giáp tường phía tây cạnh nhà vệ sinh. Sau đó L gọi điện qua zalo cho T2 để báo cho T2 biết L đã thuê được phòng 202 nhà nghỉ H2. Một lúc sau thì có Phạm Đình V, sinh năm 1994 ở khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và Hà Thị H1, sinh năm 1996 ở làng Ô, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai đi vào phòng 202 và giới thiệu là bạn của T2. Lúc này, L lấy từ trong túi nilon màu đỏ 02 bật lửa gas màu đỏ, bộ dụng cụ sử dụng ma túy là chai nhựa màu tím có nhãn hiệu Chanh dây 360, trên nắp chai đục hai lỗ được gắn 01 ống hút bằng nhựa màu xanh, 01 coóng thủy tinh màu trắng và 01 túi nilon màu trắng viền kẻ màu xanh bên trong có chứa ma túy đá rồi đổ hết số ma túy đá vào coóng thủy tinh. Tiếp đó, L dùng bật lửa gas màu đỏ đốt nóng coóng thủy tinh làm cho ma túy nóng chảy, bốc khói, rồi L ngậm miệng vào đầu ống hút bằng nhựa màu xanh gắn ở nắp chai nhựa để hít khói ma túy. Khi L hít ma túy xong, L hỏi V “làm hơi không?”, tức L mời V sử dụng ma túy thì V đồng ý. Sau đó, L dùng bật lửa gas màu đỏ đốt phía dưới coóng thủy tinh làm cho ma túy nóng chảy, bốc khói rồi mời V hít khói ma túy. Ngay sau khi L và V vừa sử dụng ma túy xong thì tổ công tác Công an thị xã T đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Đình V vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại Cơ quan Điều tra, anh V khai nội dung phù hợp với nội dung mà bị cáo L đã khai.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 129/CT-VKSTT ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố Nguyễn Trọng L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ Luật hình sự.

Trong phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội. Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Trọng L từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2024. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự. Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bật lửa gas màu đỏ; 01 túi nilon màu đỏ; 01 chai nhựa màu tím có nhãn hiệu “Chanh dây 360” nắp chai màu trắng, trên nắp chai đục hai lỗ, trong đó một lỗ gắn ống hút nhựa màu xanh; 01 túi niêm phong số 2122253 được dán kín của Phòng K Công an tỉnh B bên trong đựng mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định; 01 sim số 0353.161.136. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xám thu giữ của Nguyễn Trọng L.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo L nhận tội, không tham gia tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về việc thực hiện trình tự tố tụng đối với vụ án:

Quá trình thực hiện thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Trọng L tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người liên quan, của người chứng kiến, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02/06/2024, tại phòng 202 nhà nghỉ H2 thuộc khu phố Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh do ông Nguyễn Văn H làm chủ. Bị cáo Nguyễn Trọng L đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Phạm Đình V. Cụ thể L là người cung cấp địa điểm, cung cấp ma túy, công cụ sử dụng ma túy. Quá trình L, V sử dụng ma túy thì L là người lấy các dụng cụ để sử dụng ma túy mà L đã chuẩn bị từ trước và để sẵn tại phòng 202, dùng bật lửa đốt dưới coóng thủy tinh chứa ma túy để ma túy nóng chảy, bốc khói, cầm chai nhựa gắn coóng thủy tinh và ống hút đưa lên hít ma túy rồi cho V hít khói ma túy bốc lên.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Trọng L tổ chức cho Phạm Đình V sử dụng trái phép chất ma túy đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ Luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về nguyên nhân, mục đích và tính chất của hành vi phạm tội:

Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân, bị cáo cũng là người nghiện ma tuý, bị cáo phạm tội tổ chức sử dụng trái phép ma tuý nhưng không với mục đích thu lợi bất chính mà chỉ với mục đích sử dụng do nghiện ngập. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho cộng đồng và xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, về sâu xa nó cũng là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội khác cũng như để lại hệ lụy xấu cho xã hội. Do vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Bị cáo phạm tội nhóm tội phạm về ma túy là loại tội phạm mà cả xã hội đang tích cực đấu tranh. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục chung, cải tạo riêng.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự lần nào cũng như không bị xử phạt hành chính. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự nào khác. Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo cũng đã nhận thức được tính chất nguy hiểm cho bản thân và xã hội khi sử dụng ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vì thế bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Bị cáo cũng đã có thời gian phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân và cũng đã có những đóng góp nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Đây là những tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.

Ngoài hình phạt chính điều luật còn quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ngập, kinh tế có khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5]. Liên quan đến vụ án có:

Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” của Phạm Đình V đã vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên ngày 19/6/2024, Công an thị xã T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với V về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” là phù hợp.

Đối với ông Nguyễn Văn H chủ nhà nghỉ H2, do ông H là người phát hiện và chủ động báo tin về việc nghi vấn các đối tượng thuê phòng 202 nhà nghỉ của ông có biểu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã T không xem xét xử lý đối với ông H là phù hợp.

Đối với đối tượng tên T2, người theo L khai đã cho L ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy ở khu vực ngã tư Đ thuộc khu phố Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh ngày 02/06/2024. Do L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của T2 nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh không có căn cứ để xác minh làm rõ. Khi nào làm rõ được sẽ xem xét, xử lý sau.

[6]. Vật chứng của vụ án:

Đối với 02 bật lửa gas màu đỏ; 01 túi nilon màu đỏ; 01 chai nhựa màu tím có nhãn hiệu “Chanh dây 360” nắp chai màu trắng, trên nắp chai đục hai lỗ, trong đó một lỗ gắn ống hút nhựa màu xanh và mẫu vật là ma túy hoàn lại sau giám là vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0353.161.136. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xám của Nguyễn Trọng L là vật chứng liên quan đến tội phạm.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ Luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 329 Bộ Luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, tuyên xử.

  1. Xử phạt Nguyễn Trọng L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/6/2024.

    Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 21/11/2024 để đảm bảo thi hành án.

  2. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 02 bật lửa gas màu đỏ; 01 túi nilon màu đỏ; 01 chai nhựa màu tím có nhãn hiệu “Chanh dây 360” nắp chai màu trắng, trên nắp chai đục hai lỗ, trong đó một lỗ gắn ống hút nhựa màu xanh; 01 túi niêm phong số 2122253 được niêm phong dán kín, trên mép dán có chữ ký của Giám định viên và đóng dấu đỏ của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B bên trong đựng mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định; 01 sim số 0353.161.136. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xám. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
  3. Án phí: Bị cáo L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh.
  • -VKSND thị xã Thuận Thành.
  • -Công an thị xã Thuận Thành.
  • -Chi cục THA dân sự thị xã Thuận Thành.
  • -Những người tham gia tố tụng.
  • -Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Sỹ Cây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 13/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Trọng L tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger