|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày: 22-01-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ và bà Nguyễn Thị Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 198/2024/TLST- HS ngày 30 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 25/12/1990, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Số B P, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nơi ở hiện tại: Phòng trọ địa chỉ: Số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1960 và bà Vũ Thị L1, sinh năm 1963; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.
Tiền án:
- - Ngày 06/11/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 76/2018/HS-ST, chấp hành án xong ngày 28/8/2019, chưa được xóa án tích.
- - Ngày 20/8/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 76/2020/HS-ST, chấp hành án xong ngày 17/4/2023, chưa được xóa án tích.
Nhân thân:
- - Ngày 28/3/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng về tội “Hủy hoại tài sản” theo Bản án số 32/2013/HSST.
- - Ngày 03/10/2017 bị Công an P, thành phố B xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 70/QĐ-XOHC-NTTT, đã nộp phạt ngày 04/10/2017.
- - Ngày 04/9/2018 bị Công an thành phố B xử phạt 750.000 đồng về hành vi đánh nhau theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 138/QĐ-XPVPHC, đã nộp phạt ngày 26/10/2018.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 03/10/2024 cho đến nay. Có mặt.
- + Bị hại: Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1999; địa chỉ: Số A T, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- + Người làm chứng: Anh Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1999; địa chỉ: Số D H, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 3 giờ 00 phút sáng ngày 01/10/2024 Nguyễn Văn T đi bộ từ khu vực đường M đến khu vực đường T, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Khi đến trước nhà của anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1999, ở địa chỉ số A T, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, lúc này T nảy sinh ý định vào nhà anh Đ để trộm cắp tài sản nên T trèo qua cổng phụ bên hông nhà để vào khuôn viên sân dưới của căn nhà, rồi tiếp tục trèo lên lan can để lên tầng trên. Do cánh cửa sổ phòng bếp căn nhà không khóa nên T chui qua khe cửa để vào bên trong căn nhà. Tại khu vực phòng bếp của căn nhà, T thấy trên kệ tủ ngăn cách giữa bếp và phòng khách có 01 chiếc ví da nam nên cầm cất vào trong người, sau đó T tiếp tục lấy 01 chùm chìa khóa đang để trên bàn trong phòng bếp rồi cầm đi ra sân trước cửa căn nhà, sau đó T dùng chìa khóa vừa lấy được mở khóa của chiếc xe mô tô Honda Airblade biển số 49K1-842.00 đang dựng tại sân rồi tiếp tục dùng chìa khóa cổng trong chùm chìa khóa vừa lấy mở cổng chính của căn nhà rồi dẫn xe ra ngoài và nổ máy điều khiển chạy đi. Khi đến khu vực nhà thi đấu đa năng thành phố B, T dừng xe lấy chiếc ví ra kiểm tra thì thấy bên trong ví không có tiền và chỉ có một số giấy tờ tùy thân gồm căn cước công dân, giấy phép lái xe và thẻ ATM nên T bỏ chiếc ví vào trong cốp xe rồi tiếp tục điều khiển chạy về hướng trung tâm huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển chiếc xe mô tô Honda Airblade 49K1-842.00 về cất giấu tại phòng trọ của T ở, địa chỉ số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Tại đây T tháo biển số 49K1-842.00 cất vào trong cốp xe cùng với chiếc ví rồi lắp biển số 49M7-7936 có sẵn trong phòng trọ gắn vào xe.
Trong cùng sáng ngày 01/10/2024, sau khi anh Nguyễn Tấn Đ1 phát hiện gia đình bị mất trộm chiếc xe mô tô và chiếc ví như đã nêu ở trên, anh Đ1 trích xuất Camera an ninh của gia đình và đến gặp anh Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1999, nơi cứ trú: Số 411 H, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng và kể cho anh T1 nghe sự việc và cho anh T1 xem đoạn Video clip trích xuất từ Camera ghi lại cảnh 01 thanh niên vào trộm cắp tài sản, lúc này anh T1 nhận ra người trong Camera giống với Nguyễn Văn T là người quen của anh T1 nên đến khoảng 0 giờ 00 phút ngày 02/10/2024, anh T1 đến tìm gặp T tại phòng trọ của T ở địa chỉ: Số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Tại đây, anh T1 thấy trong phòng có 01 xe Airblade màu đen, biển số 49M7-7936 nên hỏi nguồn gốc chiếc xe và nói đây là xe của người quen anh T1 và yêu cầu T giao chiếc xe này lại cho anh T1 nên T đồng ý, đã giao lại chiếc xe cùng biển số và chiếc ví để trong cốp xe cho anh T1. Đến khoảng 07 giờ 00 phút sáng ngày 02/10/2024 anh T1 điều khiển chiếc xe mô tô đến Công an thành phố B trình báo và giao nộp chiếc xe mô tô cùng biển số, ví da cùng các giấy tờ bên trong.
Ngày 03/10/2024 Nguyễn Văn T đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 85/KL-ĐGTS ngày 04/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Giá trị của chiếc xe mô tô Honda Airblade biển số 49K1-842.00 là 28.333.000đ, giá trị của chiếc ví da nam là 37.000đ. Tổng giá trị tài sản là 28.370.000₫.
Bản Cáo trạng số 14/CT-VKSBL, ngày 26 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 03 năm đến 04 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã thu giữ, đã ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại cho anh Nguyễn Tiến Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 49K1-842.00, 01 ví da nam màu đen không có nhãn hiệu, 01 căn cước công dân số [...], 02 giấy phép lái xe hạng A1, B2 và 03 thẻ ATM đều mang tên Nguyễn Tiến Đ nên không xem xét.
- Đối với 01 biển số xe mô tô 49M7-7936, hiện Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đang tạm giữ. Tịch thu tiêu hủy.
- Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bị hại anh Nguyễn Tiến Đ đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên không xem xét.
- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- + Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
- + Bị hại anh Nguyễn Tiến Đ trình bày: Thống nhất với tội danh, điều luật Viện kiểm sát thành phố B truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Anh đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- + Bị cáo nói lời sau cùng: Xin lỗi bị hại. Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 20/8/2020 Nguyễn Văn T đã bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 76/2020/HS-ST, bị xác định “Tái phạm”, chưa được xóa án tích. Vào ngày 01/10/2024 tại địa chỉ: Số A T, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Văn T đã lén lút trộm cắp được tài sản là 01 xe mô tô Honda Airblade biển số 49K1-842.00 và 01 chiếc ví da nam cùng một số giấy tờ của anh Nguyễn Tiến Đ. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 28.370.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã bị kết án, bị xác định “Tái phạm”, chưa được xóa án tích, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật, do lười lao động, lấy việc trộm cắp tài sản của người khác nhằm mục đích thoả mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội ở địa phương và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo đã đầu thú và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
[8] Phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập nên miễn phạt bổ sung.
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã thu giữ và ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại cho anh Nguyễn Tiến Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 49K1-842.00, 01 ví da nam màu đen không có nhãn hiệu, 01 căn cước công dân số [...], 02 giấy phép lái xe hạng A1, B2 và 03 thẻ ATM đều mang tên Nguyễn Tiến Đ nên không xem xét.
Đối với 01 biển số xe mô tô 49M7-7936, hiện Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đang tạm giữ. Tịch thu tiêu hủy.
[10] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bị hại anh Nguyễn Tiến Đ đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[11] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/10/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe mô tô 49M7-7936, theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/12/2024 giữa Cơ quan Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T trộm cắp được 01 xe máy
