TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2024/HS-ST Ngày:08-8-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Huế và bà Nguyễn Hà Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/TLST- HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức L, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 22/9/1996, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Tổ H, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú (lúc bị bắt): Phòng trọ số E, nhà T P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1969 và Vũ Thị Tuyết N, sinh năm 1971; có vợ: Trần Ngọc N1, sinh năm 2005 (chưa đăng ký kết hôn), con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 23/4/2024 cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 23/4/2024, Công an thành phố B phối hợp với Công an phường L, thành phố B tiến hành kiểm tra trên người Nguyễn Đức L đang ở trong phòng trọ số E, nhà T P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng là nơi L đang thuê ở. Tại thời điểm kiểm tra, trong phòng trọ số 5 chỉ có một mình Nguyễn Đức L, qua kiểm tra, Công an thành phố B phát hiện trong túi quần Jean phía trước, bên trái L đang mặc có 01 gói nylon màu trắng hàn kín, kích thước 1,5 cm x 2,5 cm chứa chất tinh thể rắn nghi là ma túy. Công an thành phố B đã tiến hành lập biên bản bắt quả tang và thu giữ tang vật nêu trên.
Quá trình điều tra, Nguyễn Đức L khai nhận: gói nylon màu trắng hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng Công an thành phố B phát hiện, thu giữ trong túi quần Jean lộc đang mặc là ma túy Lộc tàng trữ trái phép, số ma túy trên L mua của một thanh niên chưa rõ lai lịch với giá 400.000 đồng tại khu vực chợ Đ, thành phố B vào ngày 22/4/2024. Sau khi mua được ma túy, L cất trong túi quần Jean với mục đích để sử dụng cho bản thân cho đến ngày 23/4/2024 thì L bị Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Tại bản kết luận giám định số 500/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong 01 được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2277gam, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ.
Bản Cáo trạng số 108/CT-VKSBL, ngày 12 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã thu giữ gồm: 02 phong bì niêm phong số 500/2024-PC09. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 quần Jean lửng, màu xám. Đây là tài sản của bị cáo, bị cáo đề nghị tiêu hủy nên ghi nhận.
- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- + Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
- + Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Đức L đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung Kết luận giám định; biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo là người sử dụng ma túy. Vào ngày 23/5/2024, tại phòng trọ số E, nhà T P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Đức L đã tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 0,2277 gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an thành phố Bảo Lộc phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ trái phép chất ma túy được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, nhằm mục đích sử dụng cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm nghiêm trọng gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.
[8] Phạt bổ sung: Bị cáo là người sử dụng ma túy nên miễn phạt bổ sung.
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý như sau:
Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã thu giữ gồm: 02 phong bì niêm phong số 500/2024-PC09. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 quần Jean lửng, màu xám. Đây là tài sản của bị cáo, bị cáo đề nghị tiêu hủy nên ghi nhận.
[10] Các vấn đề khác:
Đối với chị Phạm Thị H là chủ phòng trọ số E, nhà T P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng mà L thuê để ở. Quá trình điều tra đã xác định được chị H không biết L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại phòng trọ, do đó Cơ quan Công an thành phố B không xem xét trách nhiệm hình sự.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Đức L. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Công an thành phố Bảo Lộc tách ra để tiếp tục xác minh, khi có căn cứ thì sẽ xử lý sau.
[11] Xét ý kiến phát biểu trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ gồm: 02 phong bì niêm phong số 500/2024-PC09 và 01 quần Jean lửng, màu xám. Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/7/2024 giữa cơ quan Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về ..., án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: L tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 0,2277 gam, loại Methamphetamine
