|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2024/HS-ST
Ngày 25-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thanh Lịch
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Viễn
Ông Vi Văn Coóng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Chấn – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 27/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn T
Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 08 tháng 02 năm 2003 tại xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm K, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1978 và bà Hoàng Thị K, sinh năm 1964; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2021 bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Quyết định số: 294/QĐ-XPVPHC ngày 01/03/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh C.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến ngày 24/01/2024 thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Bà Lâm Thị L, sinh năm 1972; (Có mặt)
- Ông Nông Văn H, sinh năm 2001; (Vắng mặt)
- Ông Trương Văn T2, sinh năm 1991; (Vắng mặt)
- Bà Vương Thị N, sinh năm 1991; (Vắng mặt)
- Bà Lục Thị N1, sinh năm 2000; (Vắng mặt)
- Bà Sầm Thị H1, sinh năm 1993; (Vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng;
- Ông Mã Văn C, sinh năm 1979; (Vắng mặt)
- Bà Dương Thị D, sinh năm 1984; (Vắng mặt)
- Bà Hoàng Thị N2, sinh năm 1990; (Vắng mặt)
- Ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1991; (Vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: xóm L, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
- Ông Phan Văn T4, sinh năm 1994; (Có mặt)
- Ông Mông Văn C1, sinh năm 1969; (Có mặt)
Cùng nơi cư trú: xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
- Bà Hoàng Thị X, sinh năm 1989; nơi cư trú: xóm C, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ 30 phút ngày 23/8/2023 Đồn Biên phòng T5 phối hợp với Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh C làm nhiệm vụ tại khu vực Lũng Rỳ thuộc xóm K, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng phát hiện một nhóm đối tượng đang vận chuyển mỗi người một bao tải màu đen từ Việt Nam sang hướng Trung Quốc, khi bị phát hiện các đối tượng bỏ chạy, lực lượng chức năng bắt giữ được các đối tượng Phan Văn T4, Mông Văn C1 và Hoàng Thị X, thu giữ mười ba bao tải màu đen bên trong có chứa thuốc lá điếu. Khi đang truy tìm các đối tượng bỏ chạy thì Hoàng Văn T đã đến nhận số hàng trên là của bản thân T thuê người vận chuyển qua khu vực mốc 718 sang Trung Quốc. Lực lượng chức năng đã lập biên bản vụ việc và tạm giữ vật chứng gồm 12.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro và 3.980 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 Prestige S.
Qua xác minh xác định được 12.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro là sản phẩm thật của Công ty TNHH V, địa chỉ: Quốc lộ A, K, quận C, thành phố Cần Thơ sản xuất; 3.980 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 Prestige Slim là sản phẩm chính hãng của Công ty V1, được sản xuất gia công tại Công ty T6, đường số G, KCN V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Biên bản kiểm đếm số lượng vật chứng vụ án, kết quả kiểm đếm được 15.980 bao thuốc lá, trong đó thuốc lá điếu nhãn hiệu Marboro là 12.000 bao, thuốc lá điều nhãn hiệu 555 Prestige Slim là 3.980 bao.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 313/KL-HĐĐG ngày 18/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 12.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro có giá 216.000.000 đồng, 3.980 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 Prestige S có giá 44.974.000 đồng. Tổng 15.980 bao thuốc lá điếu bao gồm cả hai loại có giá trị là 260.974.000 đồng. Bị cáo nhất trí với kết quả kiểm đếm số lượng vật chứng và kết luận định giá tài sản.
Ngày 24/8/2028 Đồn Biên phòng T5 xác định vị trí nơi phát hiện, bắt giữ tại phần đất Việt Nam (khu vực xóm K, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng) có tọa độ 22.9182747, 106.2347406, cách cột mốc 718 khoảng 02km.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 22/8/2023 có một người đàn ông Trung Quốc tên P gọi cho T qua ứng dụng Wechat để trao đổi thỏa thuận với T về việc vận chuyển 32 thùng thuốc lá điếu qua khu vực mốc 718 để mang qua bên Trung Quốc, tiền công vận chuyển mỗi thùng là 100NDT (tương đương với 322.000 đồng tiền Việt Nam), nếu T để mất hàng hóa sẽ phải bồi thường mỗi thùng 1.500.000 đồng. Sau đó P bảo T gửi số điện thoại qua ứng dụng Wechat khi nào có hàng đến xã T thì có người gọi ra đón. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày có một người phụ nữ không biết họ tên, địa chỉ gọi cho T ra đón hàng, T mang theo 16 bao tải màu đen ra Tổng Cọt dẫn người phụ nữ lái xe ô tô bán tải màu trắng không biết biển số đi vào xã ba xóm N, xã T, T cùng người phụ nữ đó bốc hạ hàng từ xe xuống giấu ở dưới đường, sau đó người phụ nữ đó đi về, T một mình cho 32 thùng thuốc lá vào 16 bao tải, mỗi bao hai thùng rồi giấu dưới bụi cây. Khi T đang cho thuốc lá vào bao tải thì có bà Lâm Thị L đi qua thấy hỏi T là “có người vác hàng chưa”, T bảo “chưa có” bà L xin vác hàng, thơm đồng ý và nói tiền công vận chuyển là 200.000 đồng/bao, bà L hỏi “hàng vác có nhiều không”, T trả lời “có 32 thùng thuốc lá cho vào 16 bao tải” bà L bảo anh em nhà bà đi vác thì T hiểu là bà L sẽ tìm đủ người đi vận chuyển 16 bao thuốc lá điếu. Giấu hàng xong T đi về nhà, còn chiếc điện thoại và sim khi bị Đồn Biên phòng phát hiện T bỏ chạy đã làm rơi cả điện thoại và sim.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bà Lâm Thị L khai được nói với Hoàng Thị N2, Dương Thị D, Mã Văn C cùng trú tại xóm L, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng là có hàng vác qua biên giới tiền công 200.000 đồng, ai đi được thì đi, mọi người đồng ý, sau đó N2 gọi thêm chồng là Hoàng Văn T3 đi vác hàng thuê. Đến khi trời tối T qua nhà bà L gọi đi vận chuyển thuốc lá bà L bảo con trai là Nông Văn H đi cùng N2, D, C, T3. Đến nơi H thấy bao hàng nặng nên không vận chuyển, tuy không ai nhờ nhưng H thấy còn 4 bao hàng chưa ai vác nên đã tự gọi cho Trương Văn T2 là người cùng xóm, T2 bảo vợ là Vương Thị N và gọi thêm Lục Thị N1, Sầm Thị H1 ở cùng xóm cùng đi vận chuyển. Khoảng 21 giờ cùng ngày T cho mọi người vận chuyển hàng vào mốc biên giới, T đi trước dẫn đường và nói mọi người không được bật đèn pin tránh bị phát hiện, đến 00 giờ 30 phút khi đang vận chuyển thì bị cán bộ Biên phòng Tổng Cọt phát hiện.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, ông Phan Văn T4 và ông Mông Văn C1 đều khai Phan Văn T4, Mông Văn C1 và Hoàng Thị X cùng xuống thị trấn T, huyện T để tìm hàng hóa vận chuyển thuê, khi đến Tổng Cọt mới biết được ở khu vực K có hàng cần vận chuyển nên đã tham gia vận chuyển hàng cho T luôn, mỗi người vác một bao tải đến khu vực xóm K thì bị Đ biên phòng bắt giữ và đưa về trụ sở Đồn làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, các ông Nông Văn H, ông Trương Văn T2, bà Vương Thị N, bà Lục Thị N1, bà Sầm Thị H1, ông Mã Văn C, bà Dương Thị D, bà Hoàng Thị N2, ông Hoàng Văn T3, bà Hoàng Thị X đều khai nhận được tham gia vận chuyển hàng cho bị cáo T, khi đang trên đường vận chuyển thì bị Đồn Biên phòng phát hiện nên đã bỏ lại hàng và chạy trốn.
Bản cáo trạng số: 07/CT-VKSHQ ngày 23/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội "Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo khoản 1 Điều 189 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 189, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự (BLHS) áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo từ 16 (mười sáu) đến 20 (hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 32 (ba mươi hai) tháng đến 40 (bốn mươi) tháng. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với số tiền 52.000.000đ (Năm mươi hai triệu đồng) là tiền bán vật chứng thu được. Về án phí: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phần tranh luận bị cáo nhất trí không ai có ý kiến gì tranh luận.
Trong lời sau cùng bị cáo Hoàng Văn T mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo ở ngoài xã hội để bị cáo sửa chữa lỗi lầm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện H, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những người làm chứng Nông Văn H, Trương Văn T2, Vương Thị N, Lục Thị N1, Sầm Thị H1, Mã Văn C, Dương Thị D, Hoàng Thị N2, Hoàng Văn T3, Hoàng Thị X được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, trước đó đã có đầy đủ lời khai tại Cơ quan điều tra nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 BLTTHS.
[2] Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Tại Cơ quan điều tra và phiên toà bị cáo Hoàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản ghi nhận vụ việc vận chuyển trái phép hàng hóa (thuốc lá điếu) qua biên giới; Vật chứng vụ án đã thu giữ; Biên bản xác định hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp, qua đó có đủ cơ sở xác định: Ngày 23/8/2023 bị cáo Hoàng Văn T đã có hành vi vận chuyển trái phép 12.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Marlboro có giá trị 216.000.000 đồng, 3.980 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 Prestige Slim có giá trị 44.974.000 đồng. Tổng 15.980 bao thuốc lá điều bao gồm cả hai loại có giá trị
260.974.000 đồng từ Việt Nam qua Trung Quốc mục đích để nhận tiền công vận chuyển. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật hình sự. Do vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo đã thực hiện thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đầy đủ khả năng nhận thức việc vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới là trái quy định của pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương và khu vực biên giới.
[4] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Năm 2021 bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Quyết định số: 294/QĐ-XPVPHC ngày 01/03/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh C, nhưng tính đến ngày phạm tội lần này đã hết thời hiệu thi hành quyết định, quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên vẫn được coi là nhân thân tốt.
Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, khi Đồn Biên phòng phát hiện và thu giữ được vật chứng vụ án chưa xác định được danh tính người phạm tội, bị cáo đã tự giác đến Đồn Biên phòng T5 để trình diện và khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “đầu thú” quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo sau này trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, lao động tự do nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 189 BLHS.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 52.000.000 đồng hiện đang lưu giữ tại tài khoản tạm giữ của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Quảng, là tiền bán vật chứng vụ án (thuốc lá điếu) nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[8] Về các vấn đề khác:
Về người đàn ông Trung Quốc tên P thuê bị cáo T vận chuyển hàng hóa và người phụ nữ đi xe bán tải màu trắng chở hàng đến cho bị cáo T, trong quá trình điều tra do không xác định được lai lịch cụ thể của hai đối tượng này nên HĐXX
không có cơ sở để xem xét giải quyết trong vụ án, Cơ quan điều tra cần tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật khi có đủ căn cứ.
Về những người vận chuyển hàng cho bị cáo T là Lâm Thị L, Nông Văn H, Trương Văn T2, Vương Thị N, Lục Thị N1, Sầm Thị H1, Mã Văn C, Dương Thị D, Hoàng Thị N2, Hoàng Văn T3, Phan Văn T4, Mông Văn C1, Hoàng Thị X, do hành vi không đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan chức năng xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng là đúng quy định.
[9] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
[11] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.
Căn cứ khoản 1 Điều 189; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 25/4/2024.
Giao bị cáo Hoàng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Hoàng Văn T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc thực hiện giám sát và giáo dục.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 52.000.000đ (năm mươi hai triệu đồng) đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. (Xác nhận toàn bộ vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Quảng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 11 ngày 27/02/2024).
4. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo
Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thanh Lịch |
Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG về vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
- Số bản án: 08/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
