Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---

Bản án số 06/2025/HS-ST

Ngày 21/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

1. Tại điểm cầu trung tâm:

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Duyên Hòa
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Quảng và ông Phan Thanh Trường.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên toà: Bà Hà Lệ Thu - Kiểm sát viên.

2. Tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh P:

  • - Đại diện Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: Ông Đỗ Hải L – Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: Ông Nguyễn Giang N - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; 01 điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Hồng P, sinh ngày 30/11/2005 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Phố H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Hồng S, sinh năm 1972 và bà Hà Thị O, sinh năm 1983; Vợ, con: chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 50/HSST ngày 06/9/2021 của TAND huyện Thanh Sơn xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 05 (năm) về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”. Bản án phúc thẩm số: 97/2021/HSPT ngày 17/12/2021, TAND tỉnh Phú Thọ quyết định giữ nguyên Bản án số: 50/HSST ngày 06/9/2021 của TAND huyện Thanh Sơn. Ngày 29/12/2021, TAND huyện Thanh Sơn ra Quyết định thi hành án treo số: 164/2021/QĐ-CA đối với Vũ Hồng P. Bị cáo Vũ Hồng P chấp hành án treo từ 06/9/2021 đến ngày 03/12/2024; chấp hành thời gian thử thách từ ngày 06/9/2021 đến ngày 06/9/2026.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/12/2024 đến ngày 10/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện T.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 30 phút, ngày 03/12/2024, Tổ công tác Công an thị trấn T phát hiện Vũ Hồng P có biểu hiện liên quan đến ma tuý, Tổ công tác mời P đến trụ sở để làm việc. Quá trình làm việc Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra chất ma túy có trong nước tiểu đối với Vũ Hồng P cho kết quả Dương tính với chất ma túy. Vũ Hồng P khai nhận đã sử dụng ma túy tổng hợp vào ngày 01/12/2024, đồng thời tự nguyện lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp cho Cơ quan Công an 03 (ba) túi nilon màu trắng, đều được hàn kín; trong đó, 01 (một) túi nilon bên trong chứa 03 (ba) viên nén màu hồng và 02 (hai) túi nilon bên trong chứa chất bột màu hồng. P khai đây là ma túy tổng hợp của P tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác Công an thị trấn T đã tiến hành mời người chứng kiến và lập biên bản sự việc đối với Vũ Hồng P, đồng thời niêm phong số tang vật trên.

Xét thấy có dấu hiệu tội phạm, Công an thị trấn T đã chuyển vụ việc đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 04/12/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã trưng cầu Phòng K1 (KTHS) - Công an tỉnh P giám định vật chứng thu giữ của Vũ Hồng P. Trên cơ sở Thông báo kết luận giám định sơ bộ số 1601 cùng ngày 04/12/2024 của, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thực hiện Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Hồng P1; đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nơi cư trú của Vũ Hồng P tại phố H, thị trấn T, huyện T, nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 07/12/2024 Phòng KTHS – Công an tỉnh P có Kết luận giám định số 1631 ngày 07/12/2024, kết luận:

  • - 03 (ba) viên nén màu hồng, gửi đến giám định có tổng khối lượng là: 0,292 gam; là ma tuý; loại Methamphetamine.
  • - Chất bột màu hồng chứa bên trong 02 túi nilon, gửi đến giám định có tổng khối lượng là: 0,159 gam; là ma tuý, loại Methamphetamine.
  • * Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Trên cơ sở điều tra và kết luật giám định chất ma túy, ngày 10/12/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định Khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Vũ Hồng P về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, ra Lệnh tạm giam đối với Vũ Hồng P. Viện kiểm sát huyện T đã phê chuẩn phê chuẩn Lệnh và Quyết định để tiến hành điều tra theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, Vũ Hồng P đã khai nhận hành vi tàng trữ số ma tuý như đã nêu trên; mục đích tàng trữ là P để sử dụng cho bản thân vì P là người nghiện ma tuý.

Về nguồn gốc số ma tuý, Vũ Hồng P khai: Khoảng hơn 14 giờ ngày 01/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Vũ Hồng P đã đi đến nhà Nguyễn Văn K (Sinh năm: 1979; HKTT và nơi ở hiện tại: Khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) hỏi mua ma túy “Đá” của K với số tiền 300.000 đồng. K đồng ý và bán cho P 01 túi nilon màu trắng được hàn kín bên trong chứa ma túy “Đá” và 01 viên ma túy “H”. Sau khi mua được số ma túy, P cầm về nhà và sử dụng hết. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, P quay lại nhà K tiếp tục hỏi mua ma tuý và được K bán cho 10 viên ma túy “Hồng” được đựng trong 01 túi nilon màu trắng được hàn kín với số tiền 750.000 đồng. Sau đó P trở về nhà tại phố H nghiền 07 viên ma túy vừa mua được ra thành dạng bột và sử dụng hết một phần. Số bột ma túy còn lại P chia thành 02 túi nilon được hàn kín, còn lại 03 viên ma túy, P cho vào 01 túi nilon được hàn kín và cất giấu trên người với mục đích để tiếp tục sử dụng khi bản thân có nhu cầu nhưng chưa kịp tiếp tục sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện, thu giữ .

Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập làm việc đối vớiNguyễn Văn Kiên, tại Cơ quan CSĐT – Công an huyện T, K khai: Kiên có mối quan hệ quen biết xã hội với Vũ Hồng P. Ngày 01/12/2024, K ở nhà cùng con trai là Nguyễn Trung H1 (Sinh năm: 2006; HKTT: Khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ), K không gặp gỡ, trao đổi, mua bán trái phép chất ma tuý với Vũ Hồng P. Tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong nước tiểu của K cho kết quả âm tính.

Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã tiến hành đối chất giữa Vũ Hồng P và Nguyễn Văn K, sau đối chất, P và K vẫn giữ nguyên quan điểm về lời khai của bản thân. K không thừa nhận hành vi bán ma tuý cho P vào ngày 01/12/2024.Việc P khai mua tuý của K, ngoài lời khai của P thì không có nhân chứng cũng như không có tài liệu chứng minh nào khác. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn K.

Tại bản cáo trạng số: 02/CT-VKSThS ngày 13 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố bị cáo Vũ Hồng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn không thay đổi, bổ sung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Vũ Hồng P từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Tổng hợp với hình phạt 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số: 50/HSST ngày 06/9/2021 của TAND huyện Thanh Sơn và Bản án phúc thẩm số: 97/2021/HSPT ngày 17/12/2021, TAND tỉnh Phú Thọ.

Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 42 đến 45 tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/02/2021 đến ngày 06/9/2021 tại Bản án số: 50/HSST ngày 06/9/2021 của TAND huyện Thanh Sơn. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 04/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Hồng P.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 0,195 gam viên nén màu hồng và 0,093 gam chất bột màu hồng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong 01 Một bì giấy số 1631 của Phòng K1 - Công an tỉnh P. Mặt sau của bì giấy có chữ ký của các thành phần liên quan và 05 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh P tại các mép dán kín.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Vũ Hồng P không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2].Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Vũ Hồng P khai nhận hành vi phạm tội như sau: Hồi 20 giờ 30 phút ngày 03/12/2024, tại phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ,Vũ Hồng P đã tàng trữ 0,451 gam ma tuý loại Methamphetamine (trong đó có 03 viên dạng nén màu hồng, trọng lượng 0,292 gam; và 0,159 gam dạng bột màu hồng) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, đã bị lực lượng Công an huyện T phát hiện bắt giữ cùng vật chứng và điều tra làm rõ. Xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng vụ án và các tài liệu khác có trong trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, bị cáo đã nhận tội, không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Tính chất vụ án, tình tiết tăng tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bản án số 50/HSST ngày 06/9/2021 của TAND huyện Thanh Sơn xử phạt Vũ Hồng P 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 05 (năm) về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”. Bản án phúc thẩm số: 97/2021/HSPT ngày 17/12/2021, TAND tỉnh Phú Thọ quyết định giữ nguyên Bản án số: 50/HSST ngày 06/9/2021 của TAND huyện Thanh Sơn. Ngày 29/12/2021, TAND huyện Thanh Sơn ra Quyết định thi hành án treo số: 164/2021/QĐ-CA đối với Vũ Hồng P. Bị cáo Vũ Hồng P chấp hành án treo từ 06/9/2021 đến ngày 03/12/2024; chấp hành thời gian thử thách từ ngày 06/9/2021 đến ngày 06/9/2026. Tuy nhiên khi phạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” bị cáo Vũ Hồng P mới 15 tuổi 02 tháng 14 ngày. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 107 – Bộ luật hình sự thì bị cáo P được coi là không có án tích. Do vậy Bị cáo Vũ Hồng P không bị xác định có tiền án mà chỉ xác định về nhân thân.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bà nội là Nguyễn Thị D được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Do vậy bị cáo P được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Theo quy định tại Khoản 7 Điều 91 – BLHS, án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Do đó bị cáo Vũ Hồng P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Sau khi xem xét nhân thân, tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt là chưa phù hợp so với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian đủ để bị cáo có thời gian cải tạo và tu dưỡng bản thân, có như vậy bị cáo mới có thể nhận ra sai lầm của mình, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Bản án số 50/HSST ngày 06/9/2021 của TAND huyện Thanh Sơn xử phạt Vũ Hồng P 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 05 (năm) về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”. Bản án phúc thẩm số: 97/2021/HSPT ngày 17/12/2021, TAND tỉnh Phú Thọ quyết định giữ nguyên Bản án số: 50/HSST ngày 06/9/2021 của TAND huyện Thanh Sơn. Hiện bị cáo đang thi hành thời gian thử thách. HĐXX xét thấy khi quyết định hình phạt của bản án này cần tổng hợp với hình phạt của bản án bị cáo đang chấp hành án theo quy định tại Điều 56, Khoản 5 Điều 65 – BLHS là phù hợp.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng có giá trị và là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Các nội dung khác:

Đối với đối tượng bán ma túy cho Vũ Hồng P: Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Hồng P khai ngày 01/12/2024 bị cáo mua ma túy của Nguyễn Văn K, Sinh năm: 1979; HKTT và nơi ở hiện tại: Khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ 02 lần với tổng số tiền 1.050.000 đồng. Cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Văn K đến làm việc. Quá trình làm việc K khai K có mối quan hệ quen biết xã hội với Vũ Hồng P. Ngày 01/12/2024, K ở nhà cùng con trai là Nguyễn Trung H1 (Sinh năm: 2006; HKTT: Khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ), K không gặp gỡ, trao đổi, mua bán trái phép chất ma tuý với Vũ Hồng P. Tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong nước tiểu của K cho kết quả âm tính.

Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã tiến hành đối chất giữa Vũ Hồng P và Nguyễn Văn K, sau đối chất, P và K vẫn giữ nguyên quan điểm về lời khai của bản thân. K không thừa nhận hành vi bán ma tuý cho P vào ngày 01/12/2024.Việc P khai mua ma tuý của K, ngoài lời khai của P thì không có nhân chứng cũng như không có tài liệu chứng minh nào khác. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn K. Xét thấy là đúng pháp luật, nên chấp nhận.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,195 gam viên nén màu hồng và 0,093gam chất bột màu hồng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:
    • Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật Hình sự.
    • Tuyên bố: Bị cáo Vũ Hồng P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt:
    • Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 56, Khoản 5 Điều 65 - Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt: Bị cáo Vũ Hồng P 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù.
    • Tổng hợp với hình phạt 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 50/HSST ngày 06/9/2021 của TAND huyện Thanh Sơn; Bản án phúc thẩm số: 97/2021/HSPT ngày 17/12/2021, TAND tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 04 (B) năm tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/02/2021 đến ngày 06/9/2021 tại Bản án số: 50/HSST ngày 06/9/2021 của TAND huyện Thanh Sơn.
    • Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 04/12/2024.
    • Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Vũ Hồng P.
  3. Xử lý vật chứng vụ án:
    • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy: 0,195 gam viên nén màu hồng và 0,093gam chất bột màu hồng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong 01 Một bì giấy số 1631 của Phòng K1 - Công an tỉnh P. Mặt sau của bì giấy có chữ ký của các thành phần liên quan và 05 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh P tại các mép dán kín.
    • Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra bàn giao cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/01/2025.
  4. Án phí:
    • Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
    • Buộc bị cáo Vũ Hồng P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo:
    • Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Thanh Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Sơn;
  • - Công an huyện Thanh Sơn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - UBND thị trấn Thanh Sơn;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Trần Thị Duyên Hòa

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger