Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/DS-ST

Ngày: 06-9-2024

V/v tranh chấp chia di sản thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thúy Liễu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Phương Trang; ông Lê Thanh phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Ngọc Trân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Chau San - kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 273/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2023; về “Tranh chấp chia di sản thừa kế”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự;

  1. Nguyên đơn: Ông Bùi Văn L, sinh năm 1986. Địa chỉ: T, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Bùi Thị Bích L1, sinh năm 1984. Địa chỉ: T, ấp G, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
    1. Ông Bùi Văn S, sinh năm 1945. Địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt;
    2. Ông Bùi Văn Q, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ E, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
    3. Ông Bùi Văn C, sinh năm 1979. ĐKHKTT: Tổ 7, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp N, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
    4. Bà Bùi Thị Bích H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ B, khóm P, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
    5. Bà Bùi Thị M, sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
    6. Ông Dương Văn T, sinh năm 1971. Địa chỉ: Tổ B, ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (có mặt);
    7. Bà Lại Kim H1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ B, ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Bùi Văn S: Ông Ngô Văn S1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Đường N, tổ C, khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang (theo hợp đồng uỷ quyền ngày 30/11/2023) (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn có ông Bùi Văn L trình bày:

Ông Bùi Văn S, sinh năm 1945 và bà Trần Thị Thu H2 (chết ngày 28/7/2015) là vợ chồng có tất cả 06 người con gồm Bùi Văn Q, sinh năm 1978; Bùi Văn C, sinh năm 1979; Bùi Thị Bích H, sinh năm 1981; Bùi Thị Bích L1, sinh năm 1984; Bùi Thị M, sinh năm 1986 và Bùi Văn L, sinh năm 1986. Trước khi chết bà H2 không để lại di chúc. Bà H2 có cha ruột tên Trần Văn H3 (đã chết) và mẹ ruột tên Trần Thị M1 (đã chết). Khi còn sống bà Trần Thị Thu H2ông Bùi Văn S cùng tạo lập được khối tài sản và cùng đứng tên giấy CNQSDĐ số CH03533, thửa số 155, tờ bản đồ 02, diện tích 230,9m² do UBND cấp ngày 10/01/2012, đất tọa lạc tại xã L, huyện T, tỉnh An Giang. Hiện nay toàn bộ diện tích đất bỏ trống, không có nhà, không có công trình kiến trúc khác trên đất. Qua đo đạc thực tế diện tích không tăng, giảm so với diện tích được cấp giấy. Ông L yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật là ½ diện tích 230,9m² bằng 115,45m² thành bảy (07) kỷ phần, gồm ông S và 06 người con, mỗi người nhận 01 kỷ phần bằng 16,49m² tương ứng với giá trị theo Chứng thư thẩm định số 410/2024/CT-VVAC, ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Công ty Cổ phần T1 và đồng ý tặng cho ông Bùi Văn S một kỷ phần của mình được hưởng. Bản chính giấy CNQSDĐ số CH03533 do vợ chồng ông Dương Văn T, bà Lại Kim H1 đang trực tiếp quản lý.

Bị đơn Bà Bùi Thị Bích L1 không có yêu cầu phản tố trình bày: Thống nhất về hàng thừa kế và di sản thừa kế như ý kiến trình bày của nguyên đơn, bà L1 yêu cầu được nhận một kỷ phần bằng hiện vật tương ứng 16,49m², không đồng ý nhận giá trị di sản thừa kế.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có yêu cầu độc lập:

Ý kiến ông Bùi Văn S do ông Ngô Văn S1 đại diện trình bày : Theo nội dung Bùi Văn L khởi kiện Bùi Thị Bích L1 về tranh chấp chia di sản thừa kế của Trần Thị Thu H2 (vợ ông Bùi Văn S đã chết) thành bảy (07) kỷ phần, mỗi kỷ 16,49m² cho những người cùng hàng thừa kế của bà H2, mỗi người hưởng một kỷ phần theo quy định pháp luật. Ông S đồng ý nhận các kỷ phần của các con gồm Bùi Văn Q, Bùi Văn C, Bùi Thị Bích H, Bùi Thị MBùi Văn L tặng cho và có nguyện vọng được nhận bằng hiện vật.

3

Ý kiến các ông/bà Bùi Văn Q, Bùi Văn C, Bùi Thị Bích H trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 19 tháng 02 năm 2024 và ý kiến bà Bùi Thị M trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 13 tháng 8 năm 2024: Đều thống nhất về hàng thừa kế, di sản thừa kế do bà H2 chết không để lại di chúc, nếu được Tòa án chia theo pháp luật phần di sản của bà H2 mỗi người được nhận 01 kỷ phần, thì các ông bà đồng ý tặng cho ông Bùi Văn S là cha ruột kỷ phần của mình được hưởng.

Ý kiến vợ chồng ông Dương Văn T, bà Lại Kim H1 trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 30 tháng 7 năm 2024: Vào năm 2021 vợ chồng ông T, bà H1 có thực hiện giao dịch với ông Bùi Văn S liên quan đến phần đất chia di sản thừa kế của bà H2, nên ông S có giao cho ông bà 01 giấy CNQSDĐ mang tên Bùi Văn S, Trần Thị Thu H2. Không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp với ông S trong cùng vụ án, nếu phát sinh tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác. Đồng thời, đồng ý trả lại GCNQSDĐ cho ông Bùi Văn S.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản thừa kế của bà Hà t 07 kỷ phần bằng nhau gồm Bùi Văn S, Bùi Văn Q, Bùi Văn C, Bùi Thị Bích H, Bùi Thị Bích L1, Bùi Thị MBùi Văn L. Mỗi người nhận 01 kỷ phần tương ứng 16,49m² tương đương 29.950.178,6đ. Ghi nhận sự tự nguyện của ông L, Q, C, H, M về việc tặng cho lại ông S là 16,49m² x 05 phần = 82,45m². Bùi Thị Bích L1 được nhận 01 kỷ phần 16,49m² với giá trị bằng tiền 29.950.178,6đ. Giao 01 kỷ phần của bà L1 cho ông S quản lý, ông S có trách nhiệm hoàn trả cho bà L1 bằng số tiền 29.950.178,6đ. Tổng diện tích ông S được nhận 115,45m².

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nội dung mà các bên đương sự tranh chấp liên quan đến chia di sản thừa kế là loại tranh chấp được quy định khoản 5 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn bà Bùi Thị Bích L1, cư trú tại: Tổ A, ấp G, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về tư cách, sự vắng mặt của đương sự trong vụ án: Bị đơn bà L1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Qui, C, H, M, H1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người nêu trên.

4

Về thời hiệu khởi kiện: Bà Trần Thị Thu H2 (chết ngày 28/7/2015) nguyên đơn khởi kiện ngày 17/7/2023. Căn cứ vào Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di sản thừa kế của bà H2 vẫn còn thời hiệu khởi kiện.

[2] Về hàng thừa kế: Xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà Trần Thị Thu H2 (chết 2015) có cha là Trần Văn H3 (đã chết) và mẹ là Trần Thị M1 (đã chết). Chồng bà H2ông Bùi Văn S và 06 người con Bùi Văn Q, Bùi Văn C, Bùi Thị Bích H, Bùi Thị Bích L1, Bùi Thị MBùi Văn L. Ngoài ra, bà H2 không có con nuôi hay con riêng.

[3] Về di sản thừa kế: Xác định tài sản thừa kế của bà Trần Thị Thu H2 là ½ diện tích 230,9m². Theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 13 tháng 5 năm 2024 được giới hạn bởi các điểm 37, 38, 39, 40 có diện tích 230,9m² tương ứng 115,45m². Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08 tháng 01 năm 2024 thể hiện trên đất không có cây trồng, không có nhà, không có vật kiến khác, không có ai sinh sống trên đất.

Xét yêu cầu ông L chia diện tích 115,45m² thành 07 kỷ phần = 16,49m²/kỷ phần. Theo chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T1 lập ngày 30/7/2024, thửa đất số 155, tờ bản đồ 02 loại đất ONT, diện tích 100m², đơn giá 1.935.000đ; loại đất CLN, diện tích 130,9m², đơn giá 1.725.000đ. Tổng giá trị: 419.302.500đ. Như vậy, ½ diện tích 230,9m² =115,45m² có giá 209.651.250₫ /(07) kỷ phần = 29.950.178,6đ giá trị của mỗi kỷ phần. Căn cứ vào Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì bà H2 chết không để lại di chúc nên di sản được chia thừa kế theo pháp luật cho các hàng thừa kế của bà H2 gồm Bùi Văn S, Bùi Văn Q, Bùi Văn C, Bùi Thị Bích H, Bùi Thị M, Bùi Thị Bích L1Bùi Văn L là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.

[4] Xét về ý kiến các ông/bà: Lắm, Q, C, H, Mai tặng cho ông Bùi Văn S kỷ phần các ông/bà được hưởng. Đây là sự thỏa thuận của các bên nên ghi nhận sự tự nguyện trên của các đương sự.

[5] Đối với ý kiến của bà L1 xin được nhận bằng hiện vật với diện tích 16,49m². Xét thấy, theo quy định tại Điều 5 Quyết định số 19/2023/QĐ-UBND ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh A, quy định về diện tích tối thiểu để tách thửa thì yêu cầu của bà L1 được nhận diện tích 16,49m² là không phù hợp với quy định của pháp luật do không đảm bảo cho việc tách thửa. Do đó, chấp nhận cho bà L1 nhận 01 kỷ phần với giá trị bằng tiền tương ứng với diện tích 16,49m² = 29.950.178,6đ là phù hợp với quy định của pháp luật. Đồng thời, giao 01 kỷ phần của bà L1 được hưởng diện tích 16,49m² cho ông S tiếp tục quản lý là phù hợp, ông S có trách nhiệm trả cho bà L1 số tiền 29.950.178,6đ.

[6] Về chi phí tố tụng gồm: Chi phí đo đạc 3.699.000đ; chi phí thẩm định giá 5.300.000đ; chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 2.000.000đ. Tổng chi phí: 9.199.000đ. Trong quá trình giải quyết vụ án ông L đã nộp các chi phí trên. Tại phiên tòa, nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí tố tụng và đã nộp đủ. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.

5

[7] Đối với ông T và bà H1 đang quản lý bản chính giấy CNQSDĐ và có giao dịch với ông Bùi Văn S. Nhưng trong vụ án này ông T, bà H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết trong cùng vụ án và đồng ý trả lại cho ông S giấy CNQSDĐ, nên hội đồng xét xử không xem xét, nếu có yêu cầu được quyền khởi kiện bằng một vụ án khác. Do đó, ông Dương Văn Tbà Lại Kim H1 có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Văn S 01 bản chính giấy chứng nhận QSDĐ số CH03533, thửa số 155, tờ bản đồ 02, diện tích 230,9m² do UBND cấp ngày 10/01/2012 cho Bùi Văn STrần Thị Thu H2 đứng tên.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các bên đương sự phải chịu án phí theo quy định tại Điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 138, Điều 140, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167, Điều 202 Luật Đất đai năm 2023; Điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn L về chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật của bà Trần Thị Thu H2 (chết 2015).
  2. Xác định hàng thừa kế gồm các ông/bà: Bùi Văn S, Bùi Văn Q, Bùi Văn C, Bùi Thị Bích H, Bùi Thị Bích L1, Bùi Thị M, Bùi Văn L được hưởng di sản.
  3. Xác định di sản thừa kế là diện tích 115,45m² đất ở nông thôn, đất trồng cây lâu năm, tọa lạc xã L, huyện T, tỉnh An Giang là di sản thừa kế của bà H2 được chia theo pháp luật có giá 209.651.250đ, chia thành 07 kỷ phần cho các ông/bà: Bùi Văn S, Bùi Văn Q, Bùi Văn C, Bùi Thị Bích H, Bùi Thị Bích L1, Bùi Thị M, Bùi Văn L, mỗi kỷ phần diện tích 16,49m² có giá trị 29.950.178,6đ.
  4. Ghi nhận ý kiến các ông/bà Bùi Văn L, Bùi Văn C, Bùi Văn Q, Bùi Thị Bích H, Bùi Thị M tặng cho ông Bùi Văn S diện tích (16,49m² x 05 phần) = 82,45m².

    Giao 01 kỷ phần của bà Bùi Thị Bích L1 diện tích 16,49m² cho ông Bùi Văn S tiếp tục quản lý, ông Bùi Văn S có trách nhiệm hoàn trả giá trị cho bà Bùi Thị Bích L1 số tiền 29.950.178,6đ.

    Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  5. (kèm theo bản án là bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 13 tháng 5 năm 2024).
  6. Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
  7. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn đã nộp đủ.
  8. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Văn S, Bùi Văn Q, Bùi Văn C, Bùi Thị Bích H, Bùi Thị Bích L1, Bùi Thị MBùi Văn L mỗi người phải nộp 1.497.509đ tiền án phí. Ông Bùi Văn L được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010311 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, nên ông L phải nộp thêm 1.197.509đ.
  9. Ông Dương Văn Tbà Lại Kim H1 có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Văn S 01 bản chính giấy chứng nhận QSDĐ số CH03533, thửa số 155, tờ bản đồ 02, diện tích 230,9m² do UBND cấp ngày 10/01/2012 manh tên Bùi Văn STrần Thị Thu H2.
  10. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc bản án được niêm yết.
  11. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Tri Tôn;
  • - Chi cục THADS huyện Tri Tôn;
  • - Các đương sư;
  • - Lưu HS & VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sơn Thị Thúy Liễu

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 51/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Bùi Văn L; BĐ: Bùi Thị Bích L1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger