Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2024/HS-ST

Ngày: 23 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Xuân Văn
Thẩm phán:Ông Trần Đức Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lê Văn Sự
Ông Lê Phú Hợp
Ông Nguyễn Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyền – Thư ký Toà án nhân nhân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Duy - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 674/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024, đối với các bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1988, tại Hà Nội; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; tham gia tổ chức Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt)

Người bào chữa:

  1. Luật sư Sầm Ngọc T3 và Nguyễn Trọng Đ – Công ty L, Đoàn Luật sư thành phố H. (Có mặt)
  2. Luật sư Nguyễn Anh T4 - Công ty L1, Đoàn Luật sư thành phố H. (Có mặt)

Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
  2. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1999; trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội. (Vắng mặt)
  3. Cháu Nguyễn Minh T5, sinh năm 2019; trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội. (Vắng mặt)

Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Minh T5: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1999 và anh Nguyễn Văn C, sinh năm 2000; cùng trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội. (Vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Nguyễn Minh T5:

Bà Đỗ Thị T6 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H chi nhánh số 06. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1959; trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội. (Có mặt)
  2. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1985; trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội. (Có mặt)
  3. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1966; trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Nguyễn Văn T (sinh năm 1988; trú tại thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội) và ông Nguyễn Văn C1 (sinh năm 1966; ở cùng thôn T) là hàng xóm của nhau. Khoảng tháng 8/2022, giữa gia đình ông C1 và bà Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1959; là mẹ của T) cùng mua chung mảnh đất của chị Lê Thị H (sinh năm 1985; trú tại thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội) nên đã phát sinh mâu thuẫn giữa ông C1 và bà T2.

Xuất phát từ mâu thuẫn trên nên khoảng 21 giờ ngày 21/5/2023, tại ngõ đi chung giữa nhà ông C1 và nhà T, xảy ra việc lời qua, tiếng lại, cãi nhau giữa chị Nguyễn Thị M (sinh năm 1987; là con gái ông C1) và chị Lê Thị N2 (sinh năm 1999; là con dâu ông C1) với bà T2 và chị Nguyễn Thị N1 (sinh năm 1985; con dâu bà T2). Lúc này, T đang ở trong nhà, thấy hai bên cãi chửi nhau nên T đi ra ngõ và chửi “Đ. mẹ con N2, con M chúng mày có câm mồm không, không bố mày đập cho bây giờ” thì hai bên không cãi nhau nữa, tự bỏ về. Sau đó, T quay vào nhà và đi lên trên mặt trần tầng 2 của gia đình. Triển nhìn sang bên nhà ông C1 thì thấy chị M cùng chị N2 và anh Nguyễn Văn C (sinh năm 2000; là con trai ông C1) đang đứng dưới sân. Do còn bực tức nên T chửi: “Đ. mẹ nhà chúng mày”. Anh C nghe tiếng chửi nhìn lên thì T dùng tay phải cầm hai thanh kim loại dài khoảng 02 - 03m ở trên mặt trần tầng hai ném xuống sân nhà ông C1 trúng vào mặt bên phải chị N2 và trúng thái dương đỉnh trái của chị M. Thấy vậy, anh C nhặt 01 thanh kim loại do T ném xuống, cầm chỉ về phía Triển. Triển tiếp tục cầm 03 thanh kim loại khác ném về phía anh C nhưng không trúng. Sau đó, T dùng hai tay bê 01 ống kim loại có đường kính khoảng 07cm, dài khoảng 03m, ném từ trên xuống rơi trúng vào chiếc ô che dưới sân rồi đập vào trán bên trái cháu Nguyễn Minh T5 (sinh ngày 18/10/2019; trú tại thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội; là con trai anh C và chị N2) gây thương tích. Ngay sau đó, chị M cùng chị N2 và cháu T5 được người nhà đưa đến bệnh viện Đa khoa huyện T để cấp cứu và điều trị.

Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Văn T đã đến Công an huyện T, Hà Nội đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Cùng ngày 21/5/2023, ông Nguyễn Văn C1 đã đến trụ sở Công an xã T, huyện T, Hà Nội trình báo sự việc.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, phối hợp với các cơ quan chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ án, trưng cầu giám định và thu giữ vật chứng liên quan. Kết quả như sau:

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án hồi 23 giờ phút ngày 21/5/2023, thể hiện:

“... Nhà hàng ông C1 được xây dựng kiên cố 02 tầng hướng N. Nhà có 01 cổng ra vào và được đóng mở bởi cửa 02 cánh bằng kim loại, nhà có 03 cửa và được đóng mở bởi cửa bằng gỗ 02 cánh được sơn màu nâu, phía sau 03 cửa là phòng khách. Sau khi xem xét hiện trường, xác định các vị trí sau:

  • Vị trí 1: Cách tường phòng khách phía Bắc 4,4m, cách tường phía Đông phòng khách 1,5m trên mặt nền nhà có bám nhiều chất màu nâu đỏ diện (03x01)m, dạng nhỏ giọt từ phòng khách ra hiên nhà.
  • Vị trí số 2: Cách cổng nhà 03m, cách hòn non bộ 10cm, trên mặt sân là vị trí có chất màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt trên diện (38x25)cm.
  • Vị trí số 3: Cách hiên nhà 2,7m, cách cửa WC 1,8m trên thềm nhà tắm và WC là vị trí chất mầu nâu đỏ dạng nhỏ giọt kích thước (50x60)cm.
  • Vị trí số 4: Cách phòng bếp 1,5m, cách hiên nhà 01m là vị trí thanh kim loại kích thước (216x02x02)cm, (178x04x02)cm, (137x02x02)cm và 03 thanh kim loại được gắn với nhau tạo thành chữ H1
  • Vị trí 5: Cách hiên nhà 2,8m, gần với thềm nhà tắm là vị trí ống kim loại kích thước (300x71)cm và thanh kim loại kích thước (118x4x2)cm.
  • Vị trí 6: Cách cổng ra vào 10cm, cách hiên nhà 1,5m là vị trí thanh kim loại kích thước (212x02x02)cm.

Kiểm tra tầng 3 gia đình bà Nguyễn Thị T7 phát hiện có đặt các ống kim loại, thanh kim loại nhiều kích thước khác nhau vị trí số 7. Đo khoảng cách từ vị trí số 7 đến sân nhà ông C1 là 10m...".

Vật chứng vụ án

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và đồ vật, tài sản liên quan gồm:

- Thu giữ khi khám nghiệm hiện trường nhà ông Nguyễn Văn C1 tại thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội: 01 ống kim loại kích thước (300x7)cm; 01 thanh kim loại kích thước (118x4x2)cm; 01 thanh kim loại kích thước (212x02x02)cm và 01 thanh kim loại hình chữ H kích thước (178x04x02)cm, (216x02x02)cm, (137x02x02)cm.

- Thu giữ do ông Nguyễn Văn C1 giao nộp: 01 thẻ nhớ màu xanh đen, nhãn hiệu Lexar bên trong có hình ảnh liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra đã trích xuất hình ảnh camera còn lưu giữ hình ảnh Nguyễn Văn T thực hiện hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 3796/KL-KTHS ngày 30/5/2023 của V - Bộ C2 về tổn thương của cháu Nguyễn Minh T5, như sau:

"... Các kết quả chính:

  • Vùng đầu hiện băng y tế màu trắng thấm dịch máu màu hồng.
  • Bầm tụ máu quanh mắt trái, kích thước 07x05cm.
  • Vỡ xương trán trái đường vỡ lan vào trần ổ mắt, cánh lớn, mỏm yên trước xương bướm bên trái, thành xoang bướm.
  • Vỡ xương đỉnh lan vào xương chẩm, xương thái dương, xoang chũm gây tụ máu trong xoang và tai giữa.
  • Vỡ thành trong xoang hàm bên trái, tụ máu trong xoang. Dây niêm mạc xoang hàm bên phải.
  • Máu tụ ngoài màng cứng, dưới màng cứng, dập não trán trái.
  • Hiện tại cháu Nguyễn Minh T5 đang được điều trị tại bệnh viện nên không làm được các xét nghiệm cần thiết và khám chuyên khoa sâu, do vậy không đánh giá được các tổn thương và di chứng chấn thương (nếu có). Sau khi cháu T5 điều trị ổn định, ra viện đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đưa đến Viện khoa học hình sự giám định bổ sung.
  • Đối chiếu với Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Nguyễn Minh T5 tại thời điểm giám định tối thiểu là 25% (Hai lăm phần trăm).
  • Tổn thương tại vùng đầu của cháu Nguyễn Minh T5 do vật tày gây ra”...

Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 5044/KL-KTHS ngày 11/7/2023 của V - Bộ C2 về tổn thương của cháu Nguyễn Minh T5, như sau:

“... Các kết quả chính:

  • Sẹo (vết thương+phẫu thuật) vùng trán trái, kích thước 8,5x(0,2-0,3)cm.
  • Máu tụ ngoài màng cứng vùng trán trái, hiện tại không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh.
  • Ô tổn thương nhu mô não thùy trán trái, kích thước (1,2x1,1)cm (đường kính nhỏ hơn 02cm).
  • Ô khuyết xương sọ vùng trán trái, kích thước (4,0x1,6)cm (đường kính lớn hơn 02cm đến 06cm, đáy phập phồng).
  • Vỡ xương trán-đỉnh-chẩm, chiều dài tổng là 19,2cm (chiều dài đường vỡ trên 5cm).
  • Vùng hàm và da mi hai mắt không có dấu vết thương tích.

Đối chiếu với Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể như sau:

  • Sẹo vùng trán trái, kích thước trung bình: 06%.
  • Máu tụ ngoài màng cứng vùng trán trái, hiện tại không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh: 05%.
  • Ô tổn thương nhu mô não thùy trán trái, đường kính nhỏ hơn 02cm: 21%.
  • Ô khuyết xương sọ vùng trán trái, đường kính lớn hơn 02cm đến 06cm, đáy phập phồng: 26%.
  • Vỡ xương trán đỉnh chẩm, chiều dài đường vỡ trên 05cm: 20%.

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Nguyễn Minh T5 tại thời điểm giám định bổ sung là 60%.

Các tổn thương tại vùng đầu của cháu Nguyễn Minh T5 do vật tày gây ra.

Vùng hàm và da mi hai mắt không có dấu vết thương tích nên không có cơ sở xác định cơ chế hình thành thương tích”...

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 5046/KL-KTHS ngày 11/7/2023 của V - Bộ C2 về tổn thương của chị Lê Thị N2, như sau:

“... Các kết quả chính:

  • Sẹo vùng cánh mũi- môi phải, kích thước 5,5x(0,1-0,2)cm.
  • Mất răng R1.4; các răng R1.1, R1.2, R1.3 lung lay.
  • Sẹo phẫu thuật ngách tiền đình hàm bên phải, kích thước (02x0,1)cm.
  • Gãy xương hàm trên bên phải, đang can liền, còn phương tiện kết xương.
  • Vỡ thành trong xoang hàm phải, không di lệch.

Đối chiếu với Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể như sau:

  • Sẹo vùng cánh mũi- môi phải, kích thước trung bình: 06%.
  • Mất răng R1.4: 1,5%.
  • Sẹo phẫu thuật ngách tiền đình hàm bên phải, kích thước nhỏ: 01%.
  • Gãy xương hàm trên bên phải, đang can liền, còn phương tiện kết xương: 08%.
  • Vỡ thành trong xoang hàm phải, không di lệch: 07%.

Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, không quy định xếp loại tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với tổn thương lung lay răng nên không xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với tổn thương trên. Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Lê Thị N2 tại thời điểm giám định là: 22%.

Các tổn thương tại vùng hàm mặt của chị Lê Thị N2 do vật tày gây ra”...

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 5045/KL-KTHS ngày 11/7/2023 của V - Bộ C2 về tổn thương của chị Nguyễn Thị M, như sau:

“... Các kết quả chính

Chị Nguyễn Thị M bị chấn thương phần mềm thái dương-đỉnh trái, đã điều trị. Hiện tại: sẹo vùng thái dương-đỉnh trái, kích thước 3,2x(0,2-0,3)cm, không ảnh hưởng chức năng thần kinh sọ não.

- Đối chiếu với Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với sẹo vùng thái dương đỉnh trái, kích thước trung bình của chị Nguyễn Thị M tại thời điểm giám định là 02%...”

Trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra vụ án, chị Nguyễn Thị N1 (chị dâu Nguyễn Văn T) đã đại diện cho bị can Triển bồi thường cho chị Nguyễn Thị M, chị Lê Thị N2 và cháu Nguyễn Minh T5 tổng số tiền là 230.000.000 đồng. Chị M, chị N2 và cháu T5 đã nhận tiền và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can T.

Tại Cáo trạng số 607/CT-VKS-P2 ngày 17 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn Triển k nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội quy kết và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Nguyễn Minh T5 đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đảm bảo quyền lợi trẻ em của cháu Nguyễn Minh T5.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T2 và chị Nguyễn Thị N1: Không có ý kiền gì về số tiền đã bồi thường cho bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Giết người”. Đề nghị áp dụng a, b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn T: Từ 15 năm đến 17 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/5/2023.

- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 ống kim loại kích thước (300x07)cm; 01 thanh kim loại kích thước (118x4x2)cm; 01 thanh kim loại kích thước (212x2x2)cm và 01 thanh kim loại hình chữ H kích thước (178x4x2)cm, (216x2x2)cm, (137x2x2)cm.

- Về trách nhiệm dân sự không giải quyết.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Không tranh luận về tội danh nhưng cho rằng bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động và không có tính chất côn đồ. Đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo nhẹ hơn mức mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề xuất, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết quả được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; một người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng đã được triệu tập hợp lệ và có lời khai tại Cơ quan điều tra, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có căn cứ xác định:

Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc mua bán đất giữa gia đình ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị T2 nên khoảng 21 giờ ngày 21/5/2023, Nguyễn Văn T (con trai bà T2) đang ở nhà thì có nghe thấy tiếng cãi chửi nhau ở ngõ. T đi ra xem thì thấy chị Nguyễn Thị M (con gái ông C1) và chị Lê Thị N2 (con dâu ông C1) đang chửi nhau với chị Nguyễn Thị N1 (chị dâu T) nên T đã chửi và dọa đánh chị M, chị N2, thì không xảy ra cãi chửi nhau nữa. Sau đó, T đi lên trên mặt trần tầng 2 của gia đình tại thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội đứng nhìn sang bên nhà ông C1 thì thấy chị M, chị N2 và anh Nguyễn Văn C (con trai ông C1) đang đứng dưới sân. Triển tiếp tục chửi và liên tiếp cầm hai thanh kim loại dài khoảng 02 - 03m ở tay phải ném xuống sân nhà ông C1, lần lượt trúng vào thái dương đỉnh trái của chị M và trúng mặt bên phải của chị N2 làm gãy xương hàm trên bên phải, vỡ thành trong xoang hàm phải. Sau đó, T dùng hai tay bê một ống kim loại có đường kính khoảng 07cm, dài khoảng 03m ném từ trên xuống rơi trúng vào chiếc ô che dưới sân rồi đập vào đầu cháu Nguyễn Minh T5 (sinh năm 2019, là con anh C, chị N2) đang đứng gần đó làm vỡ xương trán trái, vỡ xương đỉnh lan vào xương chẩm, xương thái dương, xoang chũm gây tụ máu trong xoang, vỡ thành trong xoang hàm bên trái, tụ máu trong xoang, tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng, dập não trán trái. Do được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị kịp thời nên chị M, chị N2 và cháu T5 không tử vong nhưng chị M bị tổn hại 02% sức khỏe; chị N2 bị tổn hại 22% sức khỏe và cháu T5 bị tổn hại 60%.

Hành vi của bị cáo, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt, đã dùng ống tuýp sắt ném từ trên cao xuống vào vùng đầu của 03 người bị hại, trong đó có cháu T5 (sinh năm 2019), thể hiện sự coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, là hành vi giết người, giết người dưới 16 tuổi và đối với nhiều người; những người bị hại không chết là do được cấp cứu kịp thời. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Giết người theo điểm a, b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Luật sư của bị cáo cho rằng bị cáo phạm tội không có tính chất côn đồ là không có cơ sở chấp nhận.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, với nhiều tình tiết tăng nặng định khung là có tính chất côn đồ, đối với nhiều người và đối với người dưới 16 tuổi nên phải áp dụng hình phạt tù, xử phạt bị cáo nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét tại điều tra bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như Cơ quan điều tra đã xác định và tại phiện tòa bị cáo đã nhận tội như cáo trạng đã quy kết. Việc nhận tội của bị cáo là tình tiết mới tại phiên tòa nên được ghi nhận, thể hiện sự khai báo rất thành khẩn và ăn năn hối cải của bị cáo; quá trình điều tra bị cáo còn tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho người bị hại và người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo phạm tội chưa đạt; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đầu thú; có công cứu giúp người bị nạn; để áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57 Bộ luật hình sự giảm nhẹ đáng kể hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về hòa nhập với gia đình và xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về vấn đề dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho các bị hại số tiền 230.000.000 đồng. Đến nay, bị hại không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự, nên không xem xét.

[5] Về vật chứng: Thu giữ 01 ống kim loại kích thước (300x07)cm; 01 thanh kim loại kích thước (118x4x2)cm; 01 thanh kim loại kích thước (212x2x2)cm và 01 thanh kim loại hình chữ H kích thước (178x4x2)cm, (216x2x2)cm, (137x2x2)cm là hung khí mà bị cáo Nguyễn Văn T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Giết người”

Áp dụng điểm a, b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn T: 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/5/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; tịch thu tiêu hủy: 01 ống kim loại kích thước (300x07)cm; 01 thanh kim loại kích thước (118x4x2)cm; 01 thanh kim loại kích thước (212x2x2)cm và 01 thanh kim loại hình chữ “H” kích thước (178x4x2)cm, (216x2x2)cm, (137x2x2)cm.

(Vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản tháng 03/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội)

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Nguyễn Minh T5 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - CATP Hà Nội (PV 06);
  • - Phòng KTNV & THA TATP Hà Nội;
  • - Cục THADS TP Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp TP Hà Nội;
  • - Lưu HSVA, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 229/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về giết người

  • Số bản án: 229/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger