Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA – TP. HÀ NỘI

Bản án số: 11 /2020/DS-ST

Ngày: 14/8/2020

V/v tranh chấp: Quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân và ông Đặng Viết Côi

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2019/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXX-ST ngày 10 tháng 6 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2020/QĐST – DS ngày 29/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2020/QĐST – DS ngày 28/7/2020 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị R – Sinh năm: 1935 (Vắng mặt)
    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T – Sinh năm: 1960 (Có mặt)
    Đều HKTT: thôn GT, xã ĐC, huyện UH, TP. Hà Nội
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1 – Sinh năm: 1967 ( có mặt)
    HKTT: thôn GT, xã ĐC, huyện UH, TP. Hà Nội.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Bà Nguyễn Thị D – Sinh năm: 1956 (Có mặt)
    • + Bà Nguyễn Thị T2 – Sinh năm: 1962 (Có mặt)
    • + Ông Nguyễn Văn T – Sinh năm: 1960 (Có mặt)
    • + Ông Nguyễn Văn S – Sinh năm: 1970 (Có mặt)
    • + Bà Trần Thị B – Sinh năm: 1969 (Có mặt)
    • + Anh Nguyễn Viết T3 – Sinh năm: 1992 (Có mặt)
    • + Anh Nguyễn Văn T4 – Sinh năm: 1997 (Vắng mặt)
    • + Chị Hoàng Thị N – Sinh năm: 1993 (Vắng mặt)
    • + Cháu Nguyễn Thanh T5 – Sinh năm: 2018 (Vắng mặt)
    • Đều HKTT: Thôn GT, xã ĐC, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
    • + Bà Nguyễn Thị X – Sinh năm: 1972 ( Có mặt)
    • HKTT: thôn NL, xã ĐH, huyện UH, TP. Hà Nội
  4. Người làm chứng: ông Ngô Quang T6 – S năm: 1944. Trú tại: phố H, TT. VĐ, huyện UH, TP. Hà Nội (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khải, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải nguyên đơn cụ Nguyễn Thị R và người đại diện hợp pháp của cụ R là ông Nguyễn Văn T trình bày: cụ và cụ Nguyễn Van Quyết lấy nhau S được 06 người con là Nguyễn Thị D – S năm: 1957; Nguyễn Văn T – S năm: 1960; Nguyễn Thị T2 – S năm: 1962; Nguyễn Văn T1 – S năm: 1967; Nguyễn Văn S – S năm: 1970 và Nguyễn Thị X – S năm: 1972. Trong quá trình chung sống hai cụ mua được một thửa đất của ông Ngô Quang T6 và bà Nguyễn Thị Nguyên ở thôn GT, xã ĐC, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội vào năm 1980. Năm 1985, nhà nước yêu cầu kê khai, vẽ sơ đồ thì hai cụ kê khai đứng tên cụ Cương (Tên gọi ở nhà của cụ Quyết). Theo đó, năm 1985, thửa đất này là thửa 185, tờ bản đồ số 3, diện tích 182m2, đứng tên trong sổ mục kê là ông Cương. Năm 2002, thửa đất này là thửa số 580, tờ bản đồ số 2, diện tích 234.2m2 đứng tên trong sổ mục kê là ông Nguyễn Văn Quyết. Năm 2013, nhà nước đo đạc lại theo chương trình Vlap thì thửa đất này thuộc thửa 90, tờ bản đồ 17, diện tích 238.2m2 đứng tên trong sổ mục kê là ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị B. Việc đứng tên ông T1, bà B là do vợ chồng ông bà ấy tự ý kê khai, cụ R và gia đình không ai biết gì. Mãi đến năm 2018, khi có xảy ra tranh chấp, cụ R có đơn ra Ủy ban nhân dân xã ĐC thì mới biết việc đứng tên trong sổ mục kê là ông T1, bà B. Thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Quá trình sử dụng đất: Sau khi mua đất thì vợ chồng cụ R sử dụng đất vào việc trồng rau, trồng tre, đánh đống rơm. Đến khoảng năm 1991, ông T1 lập gia đình, hai cụ cho vợ chồng ông T1 ra ở riêng và S sống trên thửa đất này nhưng bớt lại 36m2 đất nằm giáp ngõ đi chung của xóm mục đích để cho ông T. Do vậy, trong quá trình S sống trên đất, hai cụ có cho vợ chồng ông T1 quy hoạch, xây dựng các công trình kiên cố trên đất nhưng cẫn bớt lại phần diện tích đất 36m2 nêu trên cho ông T. Năm 2003, cụ Quyết chết, không để lại di chúc, trước khi chết, cụ Quyết có dặn dò vợ và các con cho ông T 36m2 đất thuộc thửa đất mà vợ chồng ông T1 vẫn đang quản lý, sử dụng. Nhưng sau khi cụ chết, ông T về muốn xây dựng nhà thờ trên phần đất này nhưng vợ chồng ông T1 không đồng ý. Cụ R đã đứng ra giải quyết nhưng không được nên cụ đã nhờ chính quyền địa phương can thiệp nhưng cũng không có kết quả sau nhiều lần xã mời vợ chồng ông T1 lên làm việc và hòa giải. Do vậy, cụ đã phải nhờ đến Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa đứng ra giải quyết giúp cụ, đòi lại phần diện tích đất 36m2 nằm trong thửa đất mà vợ chồng ông T1 đang quản lý sử dụng. Còn toàn bộ số đất còn lại của cụ và của cụ Quyết, cụ R không có ý kiến, đề nghị gì hay yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra lại tại phiên tòa, căn cứ vào kết quỉa tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đối với tranh chấp nêu trên, cụ Nguyễn Thị R đòi lại một phần diện tích đất là 36 m2 thuộc thửa đất số 90, tờ bản đồ 17, diện tích 238.2m2 tọa lạc tại thôn GT, xã ĐC, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội hiện do vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị B đang quản lý, sử dụng. Thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, theo quy định tại khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội.

[2] Về nội dung: Xét về nguồn gốc thửa đất dang có tranh chấp: Theo sự trình bày của các đương sự và sơ đồ, mục kê qua các thời kỳ nhận thấy: Thửa đất đang có tranh chấp là tài sản chung của cụ Nguyễn Văn Quyết và cụ Nguyễn Thị R có được trong thời kỳ hôn nhân do mua của ông Ngô Quang T6 và bà Nguyễn Thị Nguyên từ năm 1980. Năm 1985, lập sơ đồ và mục kê thì cụ Quyết, cụ R kê khai đứng tên cụ Cương (Tên gọi ở nhà của cụ Quyết). Theo sơ đồ năm 1985 là thửa đất số 185, tờ bản đồ 03 diện tích 182m2 đứng tên trong sổ mục kê là cụ Cương. Năm 2002, là thửa đất 580, tờ bản đồ 02, diện tích 243.2m2 đứng tên trong sổ mục kê là cụ Nguyễn Văn Quyết. Năm 2013 là thửa đất 90, tờ bản đồ số 17, diện tích 238.2m2 đứng tên người sử dụng là ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị B. Việc đứng tên người sử dụng trong sơ đồ năm 2013 là do vợ chồng ông T1 tự ý kê khai. Thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35; 146; 147; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; các Điều 158; 166; 189; của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166; 170 và 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; Nghị quyết 326/ ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị R;

1. Buộc ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị B phải trả lại cho cụ Nguyễn Thị R 36 m2 của thửa đất số 90, tờ bản đồ 19, nằm trong diện tích 238.2m2. Trị giá bằng số tiền: 144.000.000 đồng (một trăm bốn mươi bốn triệu đồng).

2. Giao ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị B được toàn quyền sử dụng phần diện tích đất 36m2 của thửa đất số 90, tờ bản đồ 19, nằm trong diện tích 238.2m2 đo đạc năm 2013 tại thôn GT, xã ĐC, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội, đặc điểm của thửa đất theo sơ đồ phần chia có số đo các cạnh và tứ cận như sau:

  • - Phía Tây giáp phần diện tích đất ngõ xóm, được xác định bởi điểm cạnh 1-14, có số đo là 7,7m.
  • - Phía Bắc giáp phần diện tích đất nhà ông Trần Văn Đạo, được xác định bởi điểm cạnh 1-2, có số đo 4,7m.
  • - Phía Đông giáp phân diện tích đất còn lại của thửa đất, được xác định bởi điểm cạnh 2 – 15, có số đo là 7,81m.
  • - Phía nam giáp phần diện tích đất còn lại của thửa đất, được xác định bởi điểm cạnh 14 -15; có số đo 4,6m.

3. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.750.000 đồng. Bà Nguyễn Thị R được miễn án phí.

Nơi nhận:

- TANDTP Hà Nội;

- VKSND huyện Ứng Hòa;

- Chi cục THADS huyện Ứng Hòa;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Hoàng Thị Bích Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2020/DS-ST ngày 14/08/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 11/2020/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2020
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị R với ông Nguyễn Văn T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger