Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HS-ST

Ngày 28-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Trần Đăng Tuấn - Bí thư đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Hòa Bình, huyện Hưng Hà.
    2. Bà Trần Thị Thuỷ - Giáo viên trường Trung học cơ sở Phạm Đôn Lễ xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà.
  • Thư ký phiên tòa: ông Trần Trung Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 28-8-2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đinh Trọng Đ, sinh ngày 15/8/2003.
  2. Sinh quán: xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    Nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Trọng Q và bà Bùi Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ 11/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thái Bình (có mặt).

  3. Nguyễn Vũ H, sinh ngày 05/02/2006;
  4. Sinh quán: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

    Nơi thường trú: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

    Nơi ở hiện nay: thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị H1; vợ, con: chưa có; nhân

2

thân: ngày 25/6/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khởi tố bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ 25/6/2024 theo Lệnh bắt bị cáo để tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt).

  1. Nguyễn Đức H2, sinh ngày 07/7/2006.
  2. Khi phạm tội bị cáo 17 tuổi 08 tháng 25 ngày.

    Sinh quán: xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    Nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H3 và bà Đàm Thị Đ1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 09/5/2024 đến nay (có mặt).

  3. Nguyễn Hữu Đ2, sinh ngày 25/01/2006.
  4. Sinh quán: xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    Nơi cư trú: thôn K, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu V và bà Bùi Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 09/5/2024 đến nay (có mặt).

  5. Trần Minh T1, sinh ngày 30/11/2006.
  6. Khi phạm tội bị cáo 17 tuổi 04 tháng 02 ngày.

    Sinh quán: xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q1 và bà Vương Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 09/5/2024 đến nay (bị cáo hiện đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T do tai nạn giao thông - có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Minh T1: ông Trần Văn Q1, sinh năm 1983 (là bố đẻ bị cáo T1).

Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (có mặt).

  1. Nguyễn Thế A, sinh ngày 14/01/2002.
  2. Sinh quán: xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình.

    Nơi cư trú: thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch:

3

Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H4; vợ, con: chưa có; nhân thân: năm 2020 tham gia nghĩa vụ quân sự đến năm 2022 xuất ngũ về địa phương sinh sống; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 09/5/2024 đến nay (có mặt).

Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Đức H2 và Trần Minh T1: bà Nguyễn Thị Bích T2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T6 thuộc Sở Tư Pháp tỉnh Thái Bình (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn N, sinh năm 2002.

Trú tại: thôn K, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

Những người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Quang T3, sinh năm 2003.
  2. Trú tại: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  3. Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 2002.
  4. Trú tại: thôn K, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình

  5. Bà Tạ Thị L1, sinh năm 1984.
  6. Anh Tạ Văn C2, sinh năm 1996.
  7. Đều trú tại: Đ, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  8. Anh Nguyễn Xuân T5, sinh năm 2002
  9. Trú tại: tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  10. Anh Mai Đỗ Tiến L2, sinh ngày 15/01/2009.
  11. Người đại diện hợp pháp anh L2: anh Mai Văn D1, sinh năm 1995 (là anh trai).

    Đều trú tại: thôn Đ, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình.

(Những người làm chứng đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 19 giờ ngày 02/4/2024, do có mâu thuẫn với một số nhóm nam thanh niên tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; Mai Đỗ Tiến L2, sinh ngày 15/01/2009, cư trú tại thôn Đ, xã D, huyện H rủ Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H, Trần Minh T1, và Nguyễn Đức H2 đến quán B-a New billard của anh Bùi Văn M, sinh năm 1999 ở thôn M, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình. Tại đây, cả nhóm thống nhất đi đến thị trấn H để tìm đánh những người trong nhóm có mâu thuẫn với L2 trước đó. Khi đi, Trọng Đ mang theo 01 khẩu súng bắn hơi tự chế (không phải vũ khí quân dụng), 01 thanh tuýp rút (gậy ba khúc) đưa cho L2 cầm và 01 thanh kiếm bằng kim loại (dài 80cm có vỏ băng gỗ màu đen) đưa cho H cầm. Hữu Đ2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda

4

Wave, màu đen, không đeo biển kiểm soát chở Trọng Đ; H2 điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển số đăng ký 17B4 - 545.51 chở H; Triết điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển số đăng ký 17B5- 731.46 chở L2 đi trên đường T đến vòng xuyến Đ. Sau đó, Hữu Đ2, H2, T1 điều khiển xe chở Trọng Đ, H và L2 đi trên đường Quốc lộ 39 thuộc địa phận thị trấn H, huyện H lạng lách, đánh võng, gây mất an ninh trật tự, an toàn giao thông. Đến gần khu vực C thuộc địa phận xã H, huyện H, cả nhóm dừng xe lại ở lề đường để L2 xuống xe nhặt các vỏ chai bia thuỷ tinh ở cạnh đường chia cho mỗi xe 3 đến 4 vỏ chai. Sau đó, cả nhóm tiếp tục điều khiển xe với tốc độ cao qua nút giao nhau giữa đường ĐT468 và đường ĐH59. Đến khu vực tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, cả nhóm nhìn thấy 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave màu cam, biển số đăng ký 17B4-506.12 do anh Nguyễn Văn T4, cư trú tại thôn K, xã M, huyện H điều khiển phía sau chở anh Nguyễn Văn N, sinh năm 2002 (em trai của T4) và anh Nguyễn Quang T3, sinh năm 2003, cư trú tại thôn P, xã H, huyện H đứng chờ lấy điện thoại đang sửa ở cửa hàng điện thoại “X” gần đó. Nghĩ đây là nhóm người có mâu thuẫn với L2 nên cả nhóm chửi bới, H và L2 mỗi người cầm 01 vỏ chai bia ném về hướng anh T4, anh N, anh T3 đang đứng nhưng không trúng ai và điều khiển xe đi tiếp. Thấy vậy, T4 điều khiển xe mô tô đuổi theo phía sau nhóm Đ. Đến khu vực ngã 7 thị trấn H, nhóm của Đ phát hiện có 01 xe mô tô đi theo nên cả nhóm quay lại, anh T4 điều khiển xe bỏ chạy đến thôn Đ, xã T, huyện H, anh T4 dừng xe, cả ba người xuống xe bỏ chạy. Nhóm của Trọng Đ đuổi đến nơi, Hữu Đ2 dừng xe, Trọng Đ đứng xuống đường cầm súng hướng về phía nhóm anh T4 bóp cò 03 - 04 lần, đều phát ra tiếng nổ. L2 và Hoàng cầm các vỏ chai bia thuỷ tinh ném về phía nhóm của anh T4 nhưng không trúng. H rút kiếm đưa cho Hữu Đ2 chém nhiều nhát vào xe mô tô mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 17B4-506.12 của anh N làm mất một phần nhựa chắn bùn và rơi biển kiểm soát 17B4-506.12, giá trị thiệt hại là 1.650.000 đồng. Trọng Đạt rút chìa khóa xe máy ném vào bãi đất trống gần đó, sau đó cả nhóm điều khiển xe máy rời đi về.

Cùng hành vi trên, tối ngày 04/4/2024 Trọng Đ, Hữu Đ2, H, H2, L2 và Nguyễn Thế A, sinh ngày 14/01/2002, cư trú tại thôn K, xã D, huyện H tiếp tục rủ nhau đến thị trấn H tìm nhóm thanh niên mâu thuẫn với L2 để đánh. Hữu Đ2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không đeo biển kiểm soát chở Trọng Đ; H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 17B4 - 545.51 chở H; Thế A, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng biển số đăng ký 17B4-648.47 chở L2. Khi đi Trọng Đ mang theo 01 kiếm có vỏ bằng gỗ màu đen, 01 ná cao su, đến khu vực Đ thuộc xã H, huyện H cả nhóm

5

dừng xe lại để L2 và H xuống lấy 03 vỏ chai bia bằng thủy tinh (loại chai bia Hà Nội) ở một quán nhỏ cạnh đường. Sau đó, cả nhóm cầm theo hung khí, điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng trên các tuyến đường ở huyện H, tỉnh Thái Bình gây mất an ninh trật tự, an toàn giao thông. Khi đi đến Ngã tư nút giao đường ĐT468 và ĐH71A, cả nhóm nhìn thấy một nhóm gồm 03 xe máy, mỗi xe chở 03 nam thanh niên nên tạt đầu xe mang theo hung khí đuổi theo chửi bới nhóm nam thanh trên. Sau đó, cả nhóm quay lại tiếp tục đi tìm nhóm khác để đánh, khi cả nhóm đi đến gần khu vực ngã 7 thị trấn H, huyện H gặp 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen, trên xe chở 03 nam thanh niên cầm theo 02 thanh kiếm đuổi theo nên cả nhóm điều khiển xe máy chia nhau bỏ chạy. Khi Trọng Đ điều khiển xe chở Hữu Đ2 đi đến xã T thì bị Tổ công tác Công an huyện H yêu cầu kiểm tra, Trọng Đ, Hữu Đ2 tự khai nhận hành vi phạm tội của bản thân cùng đồng phạm đã thực hiện vào ngày 04/4/2024 và tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội cùng các đồng phạm ngày 02/4/2024.

Bản Kết luận giám định số 935 ngày 30/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận nội dung video gửi giám định: không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh của 01 tập tin video gửi giám định. Đặc điểm hành vi của đối tượng trong tập tin vieo được trích xuất, mô tả trong phụ lục kèm theo (bút lục từ số 212 đến số 222);

Bản Kết luận giám định số 4507 ngày 08/7/2024 của V1 - Bộ C3, kết luận: Khẩu súng gửi giám định là súng hơi cồn cỡ nòng 6mm, thuộc vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, không phải vũ khí quân dụng, hiện tại còn sử dụng bắn được (bút lục số 226);

Bản Cáo trạng số 98/CT-VKSHH ngày 26-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1, Nguyễn Vũ H và Nguyễn Thế A về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại b khoản 2, Điều 318 BLHS (viết tắt BLHS).

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò của các bị cáo trong vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo

6

Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1, Nguyễn Vũ H và Nguyễn Thế A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s, r khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Trọng Đ từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/5/2024.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ H từ 01 năm 04 tháng tù đến 01 năm 07 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án (được trừ đi thời gian bị tạm giam).

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s, r khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91, Điều 101; Điều 38 và Điều 65 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H2 từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91, Điều 101; Điều 38 và Điều 65 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Minh T1 từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58; Điều 38 và Điều 65 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1 đã thống nhất tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Văn N số tiền 6.000.000 đồng. Anh N đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác.

Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo.

7

Tại phiên tòa, người bào chữa cho các bị cáo H2 và T1 đề nghị: Hoàn toàn nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh, điều kiện, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, bị cáo phạm tội ở tuổi vị thành niên, suy nghĩ nhận thức còn hạn chế, vai trò của các bị cáo trong vụ án chỉ là giúp sức, nên các bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Đề nghị HĐXX xử các bị cáo với mức hình phạt thấp nhất cho các bị cáo cải tạo tại địa phương, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo T1 trình bày: ông không trình bày bổ sung gì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1, Nguyễn Vũ H và Nguyễn Thế A không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Vũ H, Trần Minh T1 và Nguyễn Thế A đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo T1 vắng mặt (đang điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh T do tai nạn giao thông) có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 290; khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của BLTTHS.

[3] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, là lời buộc tội lẫn nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản tiếp nhận

8

nguồn tin về tội phạm và đơn trình báo của anh Nguyễn Văn N (bút lục số 01, 02); Biên bản vụ việc (bút lục số 03, 04); Các báo cáo đề nghị xử lý của Ủy ban nhân dân, cơ sở thôn xã T; báo cáo tình hình an ninh trật tự trên địa bàn các xã M, thị trấn H (bút lục từ số 06 đến số 09); Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra sự việc, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường (bút lục từ số 14 đến số B); Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu (bút lục số 189); Bản Kết luận giám định số 935 ngày 30/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (bút lục từ số 212 đến số 222); Bản Kết luận giám định số 4507 ngày 08/7/2024 của V1 - Bộ C3 (bút lục số 226); Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn N, Lời khai của những người làm chứng anh Nguyễn Quang T3, anh Nguyễn Văn T4, bà Tạ Thị L1, anh Tạ Văn C2, anh Nguyễn Xuân T5 và anh M1 Đỗ Tiến L2, (bút lục từ số 240 đến số 245; từ số 257 đến số B). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 02/4/2024 Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1, Nguyễn Vũ H có hành vi điều khiển xe mô tô cầm theo hung khí (súng hơi cồn, kiếm, gậy ba khúc, vỏ chai bia) đi với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng trên các tuyến đường ở huyện H, tỉnh Thái Bình; sử dụng vỏ chai bia bằng thủy tinh ném người đi đường, sử dụng súng hơi cồn bắn nhiều lần (03 - 04 lần) phát ra tiếng nổ; sử dụng kiếm bằng kim loại chém nhiều nhát vào xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave của anh Nguyễn Văn N phá phách làm hư hỏng tài sản của anh Nguyễn Văn N (thiệt hại 1.650.000 đồng) gây mất trật tự an toàn xã hội, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Ngày 04/4/2024 Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Đức H2 và Nguyễn Thế A có hành vi cầm theo hung khí (01 kiếm, 01 ná cao su, vỏ chai bia) điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng trên các tuyến đường ở huyện H; điều khiển xe mô tô tạt đầu, sử dụng hung khí đuổi đánh người đi đường, gây mất trật tự an toàn xã hội, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Hành vi nêu trên của các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1 và Nguyễn Thế A đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng.

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

9

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

  • a) ...
  • b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;
  • c) ....

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H và Nguyễn Thế A đều là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình; các bị cáo Nguyễn Đức H2 và Trần Minh T1 khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, nhận thức còn bị hạn chế. Vụ án có sự đồng phạm giản đơn bị cáo Trọng Đ là người chuẩn bị phương tiện (Súng, kiếm, gậy ba khúc ...) mang theo trực tiếp dùng súng bóp cò, cùng các bị cáo ném vỏ chai bia, chửi bới đe dọa mọi người nên bị cáo Trọng Đ giữ vai trò đầu trong vụ án; tiếp đến các bị cáo Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H dùng kiếm chém vào đuôi xe máy của anh N, ném vỏ chai bia nên giữ vai trò thứ 2 các bị cáo còn lại là Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1 và Nguyễn Thế A là những người giúp sức nên giữ vai trò cuối. Trong vụ án bị cáo Trần Minh T1 và bị cáo Nguyễn Thế A tham gia 01 lần có hành vi điều khiển xe máy nên hành vi của hai bị cáo với vai trò đồng phạm không đáng kể.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của các bị cáo: quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1 và Nguyễn Thế A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2 tự thú hành vi phạm của bản thân nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Đức H2 và Trần Minh T1 tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh N nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Thế A có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H và Nguyễn Đức H2 bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Các bị cáo Trần Minh T1 và Nguyễn Thế A không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm

10

hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS. Các bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng Điều 54 BLHS xử phạt mức án dưới khung hình phạt. Trước khi phạm tội các bị cáo đều có nhân thân tốt.

Từ những nhận xét trên, xét thấy đối với các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ Hoàng c phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi cuộc sống ngoài xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Đối với các bị cáo Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1 và Nguyễn Thế A có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, HĐXX, xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho các bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách nhất định, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về vật chứng của vụ án: đối 01 khẩu súng hơi cồn dài 65,5cm trên thân không có số, ký hiệu; Các mảnh thuỷ tinh màu nâu, 02 vỏ chai bia thủy tinh màu nâu đã bị vỡ, trên thân chai bia có dán tem mác HABECO BIA HÀ NỘI; các mảnh nhựa màu đỏ, trắng, đen kích thước khác nhau; 02 viên gạch đỏ đều có kích thước (20 x 9 x 5)cm, 01 viên gạch đỏ bị vỡ kích thước (12 x 9 x 5)cm, 01 gạch đỏ bị vỡ kích thước (8 x 9 x 5)cm; 01 ná cao su, đã qua sử dụng, 01 kiếm bằng kim loại, dài 80 cm, có vỏ bằng gỗ màu đen, phần cán bằng gỗ dài 24cm, phần lưỡi kim loại dài 53cm, đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Đối với Mai Đỗ Tiến L2, sinh ngày 15/01/2009: tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội L2 15 tuổi, 02 tháng, 17 ngày chưa đủ tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội gây rối trật tự công cộng” quy định tại Khoản 2 Điều 318 BLHS (Điều 12 BLHS). Công an huyện H đã ra quyết định xử phạt hành chính, hình thức “Cảnh cáo” đối với L2 là phù hợp.

Đối với việc làm hư hỏng tài sản: ngày 02/4/2024, tại thị Trấn H, huyện H; Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1 và M1 Đỗ Tiến L2 có hành vi đập phá làm hư hỏng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave của anh Nguyễn Văn N, trị giá tài sản bị hư hỏng tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 1.650.000 đồng (dưới 2.000.000 đồng) chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1; Mai Đỗ Tiến L2 về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản là phù hợp.

11

Đối với hành vi sử dụng súng: Ngày 02/4/2024, tại thôn Đ, xã T, huyện H có hành vi sử dụng súng bắn 03-04 phát gây tiếng nổ. Kết quả điều tra xác định khẩu súng Trọng Đạt đã sử dụng trên là súng hơi cồn, không phải vũ khí quân dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đinh Trọng Đ về hành vi “Sử dụng trái phép các loại vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự súng săn” là phù hợp.

[7] Các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Đức H2 và Nguyễn Thế A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1Nguyễn Thế A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s, r khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đinh Trọng Đ 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/5/2024.
    2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ H 01 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án (được trừ đi thời gian bị tạm giam).
    3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s, r khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ2 01 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
    4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91, Điều 101; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H2 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91, Điều 101; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Minh T1 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

12

    1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 54; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Đức H2 cho UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Trần Minh T1 cho UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Nguyễn Thế A cho UBND xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy 01 khẩu súng hơi cồn dài 65,5cm trên thân không có số, ký hiệu; Các mảnh thuỷ tinh màu nâu, 02 vỏ chai bia thủy tinh màu nâu đã bị vỡ, trên thân chai bia có dán tem mác HABECO BIA HÀ NỘI; các mảnh nhựa màu đỏ, trắng, đen kích thước khác nhau; 02 viên gạch đỏ đều có kích thước (20 x 9 x 5)cm, 01 viên gạch đỏ bị vỡ kích thước (12 x 9 x 5)cm, 01 gạch đỏ bị vỡ kích thước (8 x 9 x 5)cm; 01 ná cao su, đã qua sử dụng, 01 kiếm bằng kim loại, dài 80 cm, có vỏ bằng gỗ màu đen, phần cán bằng gỗ dài 24cm, phần lưỡi kim loại dài 53cm, đã qua sử dụng (Những vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý).
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Đức H2, Trần Minh T1 và Nguyễn Thế A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Đinh Trọng Đ, Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Vũ H, Nguyễn Đức H2 và Nguyễn Thế A, bà T2, ông Q1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo T1, anh N vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

13

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS Hưng Hà;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hưng Yên;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Đinh Trọng Đạt cùng đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger