Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ Q

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày 27/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Hữu Bình và ông Trần Thế Dũng

Thư ký phiên tòa: Bà Phúc Hương Linh– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm – Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần – Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 89/2024/TLST- HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/QĐXXST- HS ngày 16/8/2024 đối với bị cáo:

Hà Văn S, giới tính: Nam; Sinh ngày 11/7/1975; Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Tổ dân phố 13, phường T, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Con ông Hà Văn T, đã chết và bà Cao Thị Đ, đã chết; Anh, chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ hai; Vợ: Không có; Con: Có 01 con, sinh năm 1998.

* Tiền án:

  • - Ngày 16/4/2021, Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 34/2021/HS-ST (tàng trữ 0,503 gam Heroine và Methamphetamine, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/3/2022);
  • - Ngày 20/9/2022, Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 101/2022/HS-ST (tàng trữ 0,064 gam Heroine, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/7/2023);

* Tiền sự:

  • - Ngày 04/12/2023, Công an phường T, thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, phạt tiền 1.500.000 đồng tại Quyết định số 1722/QĐ-XPHC.

* Nhân thân:

  • - Ngày 28/6/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tại Bản án số 79/ST-HS;
  • - Ngày 24/12/2009, UBND phường T, thị xã T Quyết định đưa người nghiện vào cai nghiện ma túy tại cộng đồng tại Quyết định số 127/QĐ-UB, theo Quy chế kể từ ngày 24/12/2009;
  • - Ngày 09/3/2010, UBND thị xã T (nay là thành phố Q) Quyết định đưa người nghiện vào cai nghiện ma túy bắt buộc tại công trường 06, thị xã T tại Quyết định số 362/QĐ-CT trong thời gian từ 12 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày làm thủ tục vào cai nghiện ma túy tại Công trường 06.
  • - Ngày 23/3/2011, Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 17/HSST;
  • - Ngày 30/5/2014, Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại Bản án số 45/HSST.
  • - Ngày 05/4/2018, UBND phường T, thành phố Q trong thời hạn 03 tháng tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường số 31/QĐ-UBND (chấp hành xong ngày 05/7/2018).

* Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 22/4/2024, Hà Văn S, trú tại tổ dân phố 13, phường T, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang (có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy) một mình đi xe ô tô khách từ thành phố Q đến thành phố N, tỉnh Thái Nguyên, mục đích tìm mua ma túy (Heroine) về sử dụng. Khi đến khu vực Bến xe khách Thái Nguyên thuộc phường Đ, thành phố N, S xuống xe đi bộ quanh khu vực gần đó, gặp và hỏi mua được của một người đàn ông (theo S khai tên D, không xác định được họ, tên đệm, địa chỉ) 01 gói nhỏ Heroine bọc bên ngoài bằng giấy bạc màu vàng với giá 200.000 đồng. S giấu gói Heroine vừa mua được trong túi áo bên trái đang mặc rồi đi xe ô tô khách về thành phố Q. Đến khu vực đầu cầu Nông Tiến thuộc phường T, thành phố Q, S xuống xe để đi bộ về nhà. Khi đi đến khu vực tổ dân phố 13, phường T, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Q phát hiện, yêu cầu kiểm tra, S đã tự giác giao nộp gói Heroine trên. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với S vào hồi 10 giờ 20 phút cùng ngày; thu giữ, niêm phong vật chứng và tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể S, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể. S khai nhận ngày 21/4/2024 đã sử dụng ma túy tại nhà do mua của một người đàn ông (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực Bến xe khách Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Bản Kết luận giám định số 587/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật (thu giữ của Hà Văn S) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Heroin); khối lượng 0,023g (không phẩy không hai ba gam).

Tại bản Cáo trạng số 90/CT-VKSTP ngày 07 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q đã truy tố bị cáo Hà Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hà Văn S về điều luật và tội danh đã nêu trong cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hà Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Hà Văn S từ 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù đến 01 (một) năm 05(năm) tháng tù. Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong chứa 0,023g (không phẩy không hai ba gam)Heroine (khối lượng còn lại sau khi lấy mẫu giám định), trên các mép dán có chữ ký của Hà Văn S, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
  • - Tuyên nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Hà Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục nhận tội, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang, nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn S tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ (Bút lục 21 đến 22); Kết luận giám định (Bút lục 27) cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 20 phút ngày 22/4/2024, tại tổ dân phố 13, phường T, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang; Hà Văn S, trú tại tổ dân phố 13, phường T, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang (có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy) đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,023g (không phẩy không hai ba gam) Heroine, mục đích để sử dụng.

    Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ dưới 0,1gam tuy nhiên bị cáo có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên hành vi của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

  3. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố Q. Bị cáo có 02 tiền án, 01 tiền sự và nhiều lần bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, bản thân bị cáo sống tại trung tâm thành phố, có nhận thức pháp luật, hiểu được tác hại của ma túy nhưng không rút kinh nghiệm mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, qua đó đánh giá ý thức pháp luật của bị cáo là rất kém, Do vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt nghiêm khắc tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

    Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng ma tuý mà bị cáo tàng trữ cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

    Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập thường xuyên; không có tài sản riêng có giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo đúng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q.

  6. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 21/4/2024 của Hà Văn S, ngày 29/5/2024, Công an thành phố Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1643, hình thức phạt tiền.

    Đối với người đàn ông theo Sỹ khai đã bán Heroine cho Sỹ vào ngày 21/4/2024 và người tên Duy đã bán Heroine vào ngày 22/4/2024 cho Sỹ tại khu vực Bến xe khách Thái Nguyên, do không xác định được họ, tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

  7. Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong chứa 0,023g (không phẩy không hai ba gam)Heroine (khối lượng còn lại sau khi lấy mẫu giám định), trên các mép dán có chữ ký của Hà Văn S, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Xét thấy heroine là chất nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, là tang vật của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
  8. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

    Xử phạt bị cáo Hà Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 22/4/2024.

  2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong chứa 0,023g (không phẩy không hai ba gam)Heroine (khối lượng còn lại sau khi lấy mẫu giám định).

    Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024 giữa Công an thành phố Q và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q.

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Hà Văn S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án 27/8/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tp Tuyên Quang;
  • - Công an tp Tuyên Quang;
  • - Chi cục THDS tp Tuyên Quang;
  • - UBND phường T;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Vương Thị Lan

6

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ




Trần Thế Dũng – Hà Hữu Bình

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Vương Thị Lan

7

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger