Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày 17 - 9 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Tụ

- Ông Đặng Ngọc Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Doãn Q

, sinh ngày 11/4/1990 tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Doãn C, đã chết (ông C được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba) và bà Vũ Thị T, sinh năm 1957; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 338/QĐ/XPVPHC ngày 09/10/2009 của Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình về hành vi đánh nhau và cố ý làm hư hỏng tài sản, chấp hành xong ngày 12/10/2009. Bản án số 48/2011/HSST ngày 28/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ phạt 03 năm 06 tháng tù về tội cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2013, đã tự nguyện bồi thường xong trách nhiệm dân sự, thi hành xong án phí tháng 6/2012. Quyết định số 27/QĐ/TA ngày 04/7/2017 TAND huyện Quỳnh Phụ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm 06 tháng, chấp hành xong ngày 05/6/2020; bị tạm giữ từ ngày 11/6/2024 đến ngày 17/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình (có mặt).

Người chứng kiến:

  1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1968.

  2. Anh Nguyễn Đắc K, sinh năm 1973.

Cùng cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10 giờ 15 phút ngày 11/6/2024, tại khu vực thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện Q phát hiện Lê Doãn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu honda Wave Alpha màu đen, biển số 17B5-734.26 có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q làm việc. Tại đây, tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ trong túi quần bên trái phía trước Q đang mặc 01 gói giấy trắng có dòng kẻ in mực màu xanh, chứa chất bột màu trắng dạng cục; Q khai đó là gói Heroine của Q vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo không phát hiện, thu giữ gì.

Bản kết luận giám định số 871/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật giám định là ma túy, loại Herôin (Heroine),có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng 0,1515 gam (không phẩy một nghìn năm trăm mười lăm gam).

Heroine STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.”

Tại phiên tòa bị cáo khai: Sáng ngày 11/6/2024, bị cáo đi xe mô tô đến khu vực thôn Q, xã Q, huyện Q mua của một nam thanh niên khoảng 28 tuổi, không biết họ tên, địa chỉ, 01 túi Heroine giá 200.000 đồng mục đích để sử dụng. Bị cáo bỏ gói ma túy vào túi quần đang mặc rồi điều khiển xe về nhà, khi đi đến khu vực thôn A, xã Q, huyện Q thì bị bắt quả tang.

Bản cáo trạng số 82/CT-VKSQP ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố Lê Doãn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Lê Doãn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

3

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đã đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như nội dung cáo trạng và phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản quản lý đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập cùng ngày 11/6/2024; Phiếu xét nghiệm test nhanh Morphin/Heroin ngày 12/6/2024 của Trung tâm y tế huyện Q; Kết luận giám định số 871/KL-KTHS, ngày 17/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 15 phút ngày 11/6/2024, tại đường thuộc khu vực thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Lê Doãn Q đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,1515 gam (không phẩy một nghìn năm trăm mười lăm gam) Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

...

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt đời sống kinh tế cũng như đạo đức xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều

4

loại tội phạm khác, gây dư luận bất bình trong quần chứng nhân dân, vì vậy bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo trung thực toàn bộ hành vi phạm tội, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; ngoài ra bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Năm 2009 bị cáo bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau và cố ý làm hư hỏng tài sản; năm 2011 bị TAND huyện Quỳnh Phụ phạt 03 năm 06 tháng tù về tội cố ý gây thương tích; năm 2017 bị TAND huyện Quỳnh Phụ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm 06 tháng.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã phân tích trên thấy: Mặc dù bị cáo đã được pháp luật cải tạo, giáo dục nhưng vẫn không lấy đó làm bài học để sửa đổi bản thân lại tiếp tục phạm tội; hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, thu nhập không ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Do không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho bị cáo, do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.

[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 gói chứa chất bột màu trắng dạng cục, kết quả giám định kết luận là ma túy loại Heroine và hoàn trả mẫu vật sau giám định. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, biển số 17B5-734.26 quá trình điều tra được xác định là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị T, sinh năm 1957, trú tại thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, là mẹ đẻ bị cáo. Bà T không biết việc bị cáo điều khiển chiếc xe trên đi mua ma túy, do đó Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại xe cho bà T là đúng quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số

5

326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Doãn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Lê Doãn Q 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 6 năm 2024.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,1046 gam (không phẩy một nghìn không trăm bốn mươi sáu gam) mẫu vật gửi giám định và toàn bộ bao gói quản lý của Lê Doãn Q trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 871 KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh T.

Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 23/8/2024.

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Doãn Q phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận

  • - Bị cáo;

  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;

  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Quỳnh Phụ;

  • - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳnh Phụ;

  • - Sở Tư pháp Thái Bình;

  • - Nhà tạm giữ CA huyện Quỳnh Phụ;

  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;

  • - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ;

  • - UBND xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Phụ;

  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Liên

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Doãn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger