Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HSST

Ngày: 17-7-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Bùi Văn Trung
  2. Bà Phạm Thị Huệ

Thư ký phiên toà: ông Trần Trung Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Toan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Đinh Tiến Q, sinh năm 2000; nơi sinh: xã V, huyện H. Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn  và bà Vũ Thị K (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: Bản án số 67 ngày 04/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong án phạt tù ngày 15/01/2024. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

2. Nguyễn Văn S; sinh năm 1974; Nơi sinh: xã T, huyện H. Nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Phạm Thị L; có vợ Đặng Thị Vân A và 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2006; tiền sự, tiền án: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

2. Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1968 (vắng mặt).

Nơi cư trú: thôn H, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.

3. Ông Đinh Văn T, sinh năm 1960 (có mặt).

Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 11/3/2024 đến ngày 18/3/2024, Đinh Tiến Q đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản (xe mô tô), sau đó mang bán cho Nguyễn Văn S. Nguyễn Văn S tuy không hứa hẹn trước với Q nhưng biết rõ những chiếc xe mô tô trên đều là do Q trộm cắp được vẫn đồng ý mua, mục đích tháo các bộ phận của xe rời ra lấy linh kiện và sắt vụn để bán. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 11/3/2024, Q đi bộ từ nhà đến thôn H, xã H, huyện H, phát hiện tại vệ đường trước cửa nhà ông Nguyễn Văn H dựng 01 chiếc xe mô tô, kiểu dáng Wave Alpha, nhãn hiệu Salut màu đỏ đen, biển số đăng ký: 17K6-9077, trị giá 2.200.000 đồng của ông H, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. Quan sát xung quanh không có người trông coi, Q đi đến ngồi lên yên xe, mở ổ khóa điện, nổ máy điều khiển xe đi tìm nơi bán. Đến khoảng 19 giờ ngày 11/3/2024, Q đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của Nguyễn Văn S hỏi S có mua xe đồng nát không. Sĩ xem xe, hỏi giấy tờ xe; Q nói đã làm mất giấy tờ. S nghi ngờ là xe trộm cắp nên yêu cầu Q đứng cạnh xe để chụp ảnh lại, sau đó đồng ý mua với giá 700.000 đồng. Q nhận 700.000 đồng và đi về. Sĩ mang xe vào trong nhà, tháo biển số xe vất vào đống đồ đồng nát trong nhà. Đến ngày 13/3/2024, Q đến nhà S nói nguồn gốc chiếc xe mô tô trên là do Q trộm cắp mà có và đặt vấn đề mua lại chiếc xe, mục đích mang đi trả lại chỗ cũ. S đồng ý và yêu cầu Q phải đưa 900.000 đồng chuộc lại xe nhưng Q không đồng ý với mức giá này do không đủ tiền nên bỏ về. Sau đó, S tháo rời một số linh kiện bằng nhựa và kim loại của xe ra rồi bán cùng những thứ đồng nát khác (S không nhớ thời điểm bán); phần còn lại của xe gồm: 01 khung xe mô tô có số khung RLGSA10BH 6H002539 và 01 thân động cơ xe mô tô có số VMSA2B-H002539 bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại cửa hàng của S. Số tiền 700.000 đồng bán xe, Q đã chi tiêu cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/3/2024, Q đi bộ từ nhà đến khu vực nghĩa trang thôn H, xã M, huyện H, phát hiện trên vệ đường vào nghĩa trang dựng 01 xe mô tô, nhãn hiệu SVTM màu đen xám, biển số đăng ký: 29Y2-0356, trị giá 1.000.000 đồng của ông Phạm Văn Đ, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. Quan sát xung quanh không có người trông coi, Q đi đến ngồi lên yên xe, mở ổ khóa điện, nổ máy điều khiển xe đến cửa hàng thu mua phế liệu của S để bán. Q nói với S “xe này cháu lấy bên T, yên tâm”. Sĩ hiểu là chiếc xe trên do Q trộm cắp được bên T mà có nên đồng ý mua với giá 700.000 đồng. Do tin tưởng S tiêu thụ được xe trộm cắp và đảm bảo an toàn cho Q nên Q chỉ nhận 600.000 đồng và đi về chi tiêu cá nhân hết. Sau đó, S tháo rời một số linh kiện của xe ra rồi bán cùng những thứ đồng nát khác (S không nhớ thời điểm bán); phần còn lại của xe gồm: 01 khung xe mô tô có số khung RLGSA10BH 6H002539 và 01 thân động cơ xe mô tô có số VMSA2B-H002539 bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại cửa hàng của S.

Vụ thứ ba: Khoảng 15 giờ ngày 18/3/2024, Q đi bộ từ nhà đến ngã ba thôn V, xã H, huyện H, phát hiện ở vệ đường trước cửa nhà ông Đào Xuân H1, sinh năm 1968 dựng 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Wave Alpha, nhãn hiệu Arow màu đỏ đen, biển số đăng ký: 30F6-6303, trị giá 2.500.000 đồng của ông Đinh Văn T, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. Quan sát xung quanh không có người trông coi, Q đi đến ngồi lên yên xe, mở ổ khóa điện, nổ máy điều khiển xe đến cửa hàng thu mua phế liệu của S để bán. S không hỏi nhưng biết chiếc xe trên do Q trộm cắp được mà có nên đưa cho Q 600.000 đồng. Q cầm tiền đi về chi tiêu cá nhân hết. Sau đó, S tháo rời một số linh kiện của xe ra rồi bán cùng những thứ đồng nát khác (S không nhớ thời điểm bán); phần còn lại của xe gồm: 01 khung xe mô tô, số khung RRTVCHPC X71000025 và 01 thân động cơ xe mô tô, vách máy Arrow có số máy VTMAR150FMHY000290 bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại cửa hàng của S.

Kết luận định giá tài sản số 12 ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản, UBND huyện H: 01 chiếc xe máy, kiểu dáng Wave Alpha, nhãn hiệu Salut màu đỏ đen, biển kiểm soát 17K6-9077, đã qua sử dụng, mua vào năm 2006 tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là: 2.200.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 13 ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản, UBND huyện H: 01 xe máy kiểu dáng Wave Alpha, nhãn hiệu Arrow màu đỏ đen, biển kiểm soát: 30F6-6303, đã qua sử dụng, mua lại vào vào tháng 12 năm 2023 tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là: 2.500.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 14 ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản, UBND huyện H: 01 xe máy, nhãn hiệu SVTM màu đen xám, biển kiểm soát: 29Y2-0356, đã qua sử dụng, mua lại vào tháng 3 năm 2021 tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là: 1.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 69/CT-VKSHH ngày 04/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Q về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo S về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo Q và bị cáo S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Q, bị cáo S và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo S phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 BLHS xử phạt bị cáo Q mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/3/2024. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50 và Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo S từ 09 tháng tù đến 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường giữa các bị cáo và những người bị hại về việc những người bị hại đã nhân đủ số tiền trị giá chiếc xe mô tô đã bị trộm cắp và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo S về việc bị cáo không yêu cầu bị cáo Q phải trả lại hay bồi thường cho bị cáo về số tiền bị cáo đã đã bỏ ra mua 03 chiếc xe mô tô trên.

Ngoài ra còn đề nghị HĐXX xử lý vật chứng và tuyên án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Q, S không tranh luận gì. Lời nói sau cùng: Bị cáo Q đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại là các ông Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn H đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm (bút lục số 02); Biên bản xác định hiện trường và sơ đồ hiện trường (bút lục từ số 58 đến số 84); Hồng Li Biên bản khám xét tại nhà ở của Nguyễn Văn S (bút lục số 82a, 82b); Kết luận định giá tài sản số 12,13 và 14 cùng ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản, UBND huyện H (bút lục từ số 48 đến số 50); Kết luận giám định số 534 ngày 25/4/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh T (bút lục số 92, 93); Đơn trình báo và lời khai của những người bị hại là ông T, ông Đ và ông H (bút lục từ số 136 đến 149). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 11/3/2024, tại vệ đường trước cửa nhà ông Nguyễn Văn H ở thôn H, xã H, huyện H; Đinh Tiến Q có hành vi trộm cắp của ông H 01 xe mô tô, kiểu dáng Wave Alpha, nhãn hiệu Salut màu đỏ đen, biển số đăng ký: 17K6-9077, trị giá 2.200.000 đồng mang bán cho Nguyễn Văn S được 700.000 đồng. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/3/2024, tại khu vực nghĩa trang thôn H, xã M, huyện H, Q có hành vi trộm cắp của ông Phạm Văn Đ 01 xe mô tô, nhãn hiệu SVTM màu đen xám, biển số đăng ký: 29Y2-0356, trị giá 1.000.000 đồng mang bán cho S được 600.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ ngày 18/3/2024, tại vệ đường trước cửa nhà ông Đào Xuân H1 ở thôn V, xã H, huyện H, Q có hành vi trộm cắp của ông Đinh Văn T 01 xe mô tô kiểu dáng Wave Alpha, nhãn hiệu Arow màu đỏ đen, biển số đăng ký: 30F6-6303, trị giá 2.500.000 đồng mang bán cho Nguyễn Văn S được 600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Đinh Tiến Q đã trộm cắp là 5.700.000 đồng. Nguyễn Văn S biết rõ những chiếc xe mô tô trên do Q trộm cắp mà có nhưng vẫn trả Q tổng số tiền 1.900.000 đồng mua lại, sau đó tháo rời các bộ phận của xe để bán.

Hành vi nêu trên của bị cáo Q đã vào tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS; hành vi nêu trên của bị cáo S đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) ...

đồng.

Điều 323: Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. ...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nơi địa phương xảy ra tội phạm. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng do cần tiền chi tiêu cá nhân, lười lao động, bị cáo lợi dụng sơ hở của người dân, cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo Q đã tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, phạm tội gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên và có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản nên bị cáo phải chịu 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 BLHS. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử mức án tù theo khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Hành vi phạm tội của bị cáo S là nguy hiểm, vì mục đích tư lợi trái pháp luật, xâm phạm đến xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng do hám lợi, bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo phạm tội hai lần trở lên nên bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo S tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, phạm tội gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, trước khi phạm tội có nhân thân tốt, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, chỉ cần áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt nhưng cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại là ông T, ông Đ và ông H nhận đủ số tiền trị giá tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu các bị cáo phải trả lại hay bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác. Bị cáo S không yêu cầu bị cáo Q trả lại hay bồi thường số tiền S đã bỏ ra mua 03 chiếc xe mô tô trên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 khung xe mô tô ký hiệu “1”, sơn màu đen, chữ số đọc được là: RL1WCHC09 7B030733; 01 khung xe mô tô ký hiệu “2”, sơn màu đen, chữ số đọc được là: RLGSA10BH 6H002539; 01 khung xe mô tô ký hiệu “3”, sơn màu đen, chữ số đọc được là: RRTVCHPC X71000025; 01 thân động cơ xe mô tô, ký hiệu “1”, vách máy ARROW, chữ số đọc được là: VTMAR150FMHY 000290; 01 thân động cơ xe mô tô ký hiệu “2”, vách máy SYM chữ số đọc được là: VMSA2B – H 002539; 01 thân động cơ xe mô tô ký hiệu “3”, vách máy SYM, chữ số đọc được là: VLF1P52FMH-3 70030733 là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng, các bị cáo không xin lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[6] Bị cáo Q và S phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Tiến Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

2.1 Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đinh Tiến Q 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/3/2024.

2.2 Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo S 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo S cho UBND xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 khung xe mô tô ký hiệu “1”, sơn màu đen, chữ số đọc được là: RL1WCHC09 7B030733; 01 khung xe mô tô ký hiệu “2”, sơn màu đen, chữ số đọc được là: RLGSA10BH 6H002539; 01 khung xe mô tô ký hiệu “3”, sơn màu đen, chữ số đọc được là: RRTVCHPC X71000025; 01 thân động cơ xe mô tô, ký hiệu “1”, vách máy ARROW, chữ số đọc được là: VTMAR150FMHY 000290; 01 thân động cơ xe mô tô ký hiệu “2”, vách máy SYM chữ số đọc được là: VMSA2B – H 002539; 01 thân động cơ xe mô tô ký hiệu “3”, vách máy SYM, chữ số đọc được là: VLF1P52FMH-3 70030733 (những vật chứng trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo Q và bị cáo S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Q, bị cáo S và ông T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông H, ông Đ vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - UBND xã Minh Khai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 75/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đình Tiến Quang và Nguyễn Văn Sĩ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger