|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 63/2024/HS-ST Ngày 26-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Văn
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Huy, bà Lê Thị Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:47/2024/HSST ngày 17 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Phan Thị H, sinh ngày 16 tháng 10 năm 1962, tại Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá lớp: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1942; chồng: Đỗ Quang V, sinh năm 1961, có 03 con, con lớn nhất, sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Tạ Thị Thúy V1 – sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; chỗ ở hiện tại: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái- vắng mặt
- - Chị Nguyễn Thị Thu H1 – sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thị Thanh H2 – sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái – vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thị T1 – sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ B, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – vắng mặt.
- - Chị Trần Thị Hải Đ – sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ H, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – vắng mặt.
- - Chị Đỗ Thị Kim C – sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ B, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái - vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thị H2 – sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện H, Thành phố Hà Nội - vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thị Kiều T2 – sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ B, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái- vắng mặt.
- - Chị Vũ Thị Hạnh Q – sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn A T, xã P, huyện L, tỉnh Yên Bái, C1 ở hiện nay: Tổ H, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thị H2 – sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái - vắng mặt.
- - Ông Đỗ Quang V – sinh năm 1961; Địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái - vắng mặt.
* Người làm chứng: Ông Hoàng Minh H3, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ C, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, chỗ ở hiện tại: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 06/4/2024, tại nhà của mình số A đường T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Phan Thị H đã sử dụng điện thoại di động của mình và gọi rủ Tạ Thị Thúy V1, Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1978) đến nhà H đánh bạc được, thua bằng tiền với hình thức chơi “Sâm”, ba người này đồng ý và đi đến nhà của H. Do chưa đủ người chơi nên ba người ngồi chơi tại phòng ngủ trên tầng hai của nhà H, tiếp đó Nguyễn Thị H2(sinh năm 1987) và Nguyễn Thị Kiều T2 cũng lần lượt tự đến nhà H chơi. Lúc này, V1, H1, H2 (sinh năm 1978), H2 (sinh năm 1987), T2 đã cùng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức chơi “Sâm”. Để phục vụ những người trên đánh bạc, H đã lấy một chiếc chăn màu hồng trải ở vị trí gần cửa ra ban công tầng hai và lấy một bộ bài tú lơ khơ mua từ trước cất tại phòng ngủ đưa cho những người này để đánh bạc. Quá trình này, H không tham gia, chỉ ngồi xem do không có tiền.
Khi những người trên đang đánh bạc thì Vũ Thị H4 Q gọi điện thoại cho H để hỏi đến nhà H chơi “Sâm” thì H đồng ý. Khoảng 30 phút sau, Q đến nhà H và có mặt tại phòng ngủ nơi những người trên đang đánh bạc, thấy vậy H2 (sinh năm 1987) không đánh bạc nữa và Q đã thay H2 (sinh năm 1987) đánh bạc tại chiếu bạc này. Lúc này chiếu bạc thứ nhất gồm có V1, H1, T2, H2 (sinh năm 1978) và Q. Tiếp đó, Nguyễn Thị Thanh H2 cũng tự đến nhà H chơi với mục đích đánh bạc, tuy nhiên do chưa đủ người đánh bạc nên Thanh H2 và H2 (sinh năm 1987), cùng với H ngồi xem đánh bạc tại chiếu bạc thứ nhất.
Đến khoảng13 giờ 30 phút cùng ngày, H tiếp tục gọi điện thoại cho Nguyễn Thị T1, Trần Thị Hải Đ và Đỗ Thị Kim C rủ đến nhà H đánh bạc và những người này đã đồng ý. Sau đó, C đi cùng Hoàng Minh H3 đến nhà của H. Lúc này H2 (sinh năm 1987), Thanh H2 và C rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức chơi “Sâm”. H tiếp tục lấy một chiếc chăn màu đỏ trải ra gần cửa ra vào bên trong phòng ngủ và đưa cho ba người này một bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc. Tiếp đó, Đ và T1 cũng lần lượt đến và tham gia đánh bạc cùng ba người trên; chiếu bạc thứ hai lúc này có 05 người gồm H2 (sinh năm 1987), Thanh H2, C, Đ, T1.
Các đối tượng khai nhận: Cả hai chiếu bạc đều đánh bạc với hình thức chơi “Sâm”, những người chơi sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân để đánh bạc và tự quy ước với nhau chơi “Sâm” với số tiền 5.000 đồng/01 quân bài. Thứ tự quân
2
bài theo thứ tự giảm dần từ 2, Á, K đến 3, dây là các quân bài gồm các số tiến liên tiếp, dây lớn hơn chặn dây nhỏ hơn; ba quân bài giống nhau lớn hơn chặn ba quân bài giống nhau nhỏ hơn; đôi (hai quân bài giống nhau) lớn hơn chặn đôi nhỏ hơn; tứ quý (bốn quân bài giống nhau) thì chặn được 2 và chặn được tứ quý nhỏ hơn. Lượt đánh của người chơi theo thứ tự chiều bên tay phải. Ván bài đầu tiên bất kể người nào cũng có thể chia bài cho mỗi người 10 lá bài, sau đó có một người bốc 01 lá bài trong số bài thừa còn lại để đếm theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ vào vị trí của người nào thì người đó sẽ được đi trước, từ các ván bài sau ai thắng sẽ đánh trước. Người thua sẽ phải trả cho người thắng số tiền 5.000 đồng nhân với số lá bài còn lại trên tay. Nếu có người “báo sâm” nghĩa là không ai chặn được bài của người đó thì số tiền mỗi người thua phải trả cho người báo sâm là 100.000 đồng; còn nếu “người báo sâm” mà có người khác “bắt sâm” (chặn được bài của người báo sâm) thì số tiền “người báo sâm” phải trả cho “người bắt sâm là” 400.000 đồng; T3 là khi kết thúc ván bài mà người chơi không đánh đi được quân bài nào thì sẽ phải trả cho người thắng là 70.000 đồng; Tứ quý chặn “2” là 70.000 đồng. Những người tham gia đánh bạc tại hai chiếu bạc tự thống nhất với nhau ai “Sâm” thành công sẽ bỏ ra 20.000 đồng cho H để mua hoa quả, thời điểm này H có mặt và đồng ý với số tiền những người đánh bạc đề ra; toàn bộ quá trình này H1 đã “Sâm” thành công được hai ván và bỏ ra số tiền 40.000 đồng, T2 “Sâm” thành công được một ván và bỏ ra số tiền 20.000 đồng. Tuy nhiên, hai người này đều để tiền trên chiếu bạc gần vị trí ngồi chưa đưa trực tiếp cho H. Bản thân H cũng biết H1 và T2 đã “Sâm” thành công tổng số 03 ván và bỏ ra tổng số tiền 60.000 đồng cho mình.
Toàn bộ quá trình đánh bạc H không tham gia do không có tiền, H3 cũng nằm chơi trên giường tại phòng ngủ nơi đánh bạc và xem những người khác đánh bạc. Khi Q, H1, H2 (sinh năm 1978), T2, T1, C, Đ, Thanh H2 đến nhà, H là người trực tiếp mở cửa phòng khách tầng một và đưa lên phòng ngủ tầng hai để đánh bạc.
Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, khi những người trên đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an thành phố Y phát hiện kiểm tra.
Tại phòng trên tầng hai của ngôi nhà có 10 người ở trong phòng chia làm hai chiếu bạc đang thực hiện hành vi đánh bạc. Khi tổ công tác vào kiểm tra, những người trên đã cầm tiền đang sử dụng để đánh bạc cất vào người và đứng lên định bỏ chạy, trong đó có 02 người tên H2 và T2 ra lan can tầng hai, bám dây điện trèo sang ngôi nhà bên cạnh chạy thoát. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vụ việc và tạm giữ các đồ vật tài liệu có liên quan, cụ thể như sau:
* Chiếu bạc thứ nhất tại vị trí gần cửa ra ban công tầng hai gồm: Tạ Thị Thúy V1, Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Thị Kiều T2, Nguyễn Thị H2(sinhnăm 1978) và Vũ Thị Hạnh Q.
- - Tạ Thị Thúy V1 mang theo số tiền 920.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, thua 50.000 đồng, còn lại 870.000 đồng, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
- - Nguyễn Thị Thu H1 mang theo số tiền 1.100.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc, thắng được 1.640.000 đồng, thời điểm kiểm tra đang có số tiền 2.740.000 đồng, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
3
- - Nguyễn Thị Kiều T2 mang theo số tiền 800.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc, thua 480.000 đồng, còn lại 320.000 đồng. Khi bị Cơ quan điều tra kiểm thì bỏ chạy và để lại tiền dưới chiếu.
- - Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1978) mang theo số tiền 755.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, thua 500.000 đồng, còn lại 255.000 đồng. Khi bị Cơ quan điều tra kiểm thì bỏ chạy và để lại tiền dưới chiếu.
- - Vũ Thị Hạnh Q mang theo số tiền 650.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc, thua 280.000 đồng, còn lại 370.000 đồng, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Tổng số tiền đánh bạc thu giữ tại chiếu bạc thứ nhất là 4.555.000 đồng.
* Chiếu bạc thứ hai tại vị trí gần cửa ra vào bên trong phòng ngủ gồm: Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1987), Trần Thị Hải Đ, Nguyễn Thị Thanh H2, Đỗ Thị Kim C và Nguyễn Thị T1:
- - Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1987) mang theo số tiền 900.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc, thua 290.000 đồng, còn lại 610.000 đồng, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra
- - Trần Thị Hải Đ mang theo và sử dụng hết 745.000 đồng để đánh bạc. Khi Cơ quan điều tra kiểm tra thì không còn tiền trên người.
- - Nguyễn Thị Thanh H2 mang theo số tiền 900.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc, thắng được 250.000 đồng, thời điểm kiểm tra đang có số tiền 1.150.000 đồng, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
- - Đỗ Thị Kim C mang theo số tiền 715.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc, thắng được 160.000 đồng, thời điểm kiểm tra đang có số tiền 875.000 đồng, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
- - Nguyễn Thị T1 mang theo số tiền 700.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc, thắng được 295.000 đồng, thời điểm kiểm tra đang có số tiền 995.000 đồng.
Thu giữ tại chiếu bạc số tiền sử dụng để đánh bạc là 425.000 đồng, đây là tiền những người đánh bạc bỏ lại, không kịp cất giấu khi bị Cơ quan Công an kiểm tra.
Tổng số tiền đánh bạc tại chiếu bạc thứ hai là 4.055.000 đồng
Ngoài ra Cơ quan điều tra còn tạm giữ: 02 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài; 02 chăn có nhiều hình hoa văn; 07 điện thoại di động; số tiền 500.000 đồng, phát hiện dưới đệm trên giường trong phòng ngủ nơi các đối tượng đánh bạc. Tổng số tiền Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y tạm giữ là 9.110.000 đồng.
Bản kết luận giám định số 260/KL-KTHS ngày 14/5/2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận: 07 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000đồng; 11 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000đồng; 09 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000đồng; 25 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000đồng; 43 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000đồng; 28 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000đồng; 24 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000đồng gửi giám định đều là tiền thật.
Vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án gồm:
- Tại chiếu bạc thứ nhất:
- + Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 4.555.000 đồng.
- + 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài, mặt sau màu đỏ.
- + 01 chăn màu hồng, trên có nhiều hình hoa văn kích thước khoảng 1,6 x 1,8 mét.
- Tại chiếu bạc thứ hai:
4
- + Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 4.055.000 đồng.
- + 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài, mặt sau màu xanh.
- + 01 chăn màu đỏ trên có nhiều hình hoa văn kích thước khoảng 1,6 x 1,8 mét.
- - Số tiền 500.000 đồng phát hiện dưới đệm trên giường trong phòng ngủ nơi những người này đánh bạc.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại máy đen trắng, bàn phím cơ, lắp sim số 0399.393.974, điện thoại cũ, đã qua sử dụng do Phan Thị H tự nguyện giao nộp.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS, màu xám, lắp sim số: 0913500202, điện thoại cũ, đã qua sử dụng do Tạ Thị Thúy V1 tự nguyện giao nộp.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 PRO MAX, màu đen, lắp sim số 0942.668.662, điện thoại cũ, đã qua sử dụng do Nguyễn Thị Thu H1 tự nguyện giao nộp.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, lắp sim số: 0393.584.681 và 0916.478.565, điện thoại cũ, đã qua sử dụng do Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1978) tự nguyện giao nộp.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 PRO MAX, dung lượng 64GB, màu xám, được lắp sim số 0372.668.662 và 0389.610.224, điện thoại cũ, đã qua sử dụng do Nguyễn Thị T1 tự nguyện giao nộp.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, màu đen, lắp sim số 0934.553.116 và 0914.871.216, điện thoại cũ, đã qua sử dụng do Đỗ Thị Kim C tự nguyện giao nộp.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 7, màu đen, lắp sim số 0835.589.826 và 0889.627.758, điện thoại cũ, đã qua sử dụng do Trần Thị Hải Đ tự nguyện giao nộp.
Cáo trạng số: 51/CT-VKS-TP, ngày 17-7-2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo: Phan Thị H về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái giữ nguyên các nội dung của Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo: Phan Thị H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt: từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Hình phạt bổ sung: Đề nghị xử phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị:
- + Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài, mặt sau màu đỏ; 01 chăn màu hồng, trên có nhiều hình hoa văn kích thước khoảng 1,6 x 1,8 mét; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài, mặt sau màu xanh; 01 chăn màu đỏ trên có nhiều hình hoa văn kích thước khoảng 1,6 x 1,8 mét.
- + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 8.610.000 đồng là tiền 10 người chơi sử dụng vào việc đánh bạc; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại máy đen trắng, bàn phím cơ, số IMEI: 353454/04/950548/2, lắp sim số 0399.393.974 của Phan Thị H.
5
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra trong vụ án.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo là người cao tuổi có đề nghị được miễn án phí. Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo thành khẩn khai nhận đã có hành vi như Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên, sự vắng mặt của của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận của bị cáo đã phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và đánh giá. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 06/4/2024, tại nơi ở của mình nhà số A, đường T thuộc tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Phan Thị H đã tổ chức cho 10 người chia làm 02 chiếu bạc để đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức chơi “Sâm”, gồm: chiếu bạc thứ nhất: Tạ Thị Thúy V1, Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Thị Kiều T2, Nguyễn Thị H2 (Sinh năm 1978), Vũ Thị Hạnh Q. Số tiền sử dụng để đánh bạc là 4.555.000 đồng; Chiếu bạc thứ hai: Nguyễn Thị H2 (Sinh năm 1987), Trần Thị Hải Đ, Nguyễn Thị Thanh H2, Đỗ Thị Kim C, Nguyễn Thị T1. Số tiền sử dụng để đánh bạc là 4.055.000 đồng. Tổng số tiền 10 người đánh bạc trên 02 chiếu bạc là 8.610.000 đồng. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố đối với bị cáo theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Nên cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình tham gia tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo xuất trình đơn đề nghị có xác nhận của Trung tâm Công tác xã hội và bảo trợ xã hội tỉnh Y về việc trong năm 2023 và 2024, bị cáo đã ủng hộ tiền, tích cực kêu gọi các tổ chức và cá nhân đóng góp làm từ thiện và trực tiếp tham gia công tác thiện nguyện tại Trung tâm được Trung tâm ghi nhận. Trong và sau cơn bão số 3, tháng 9 năm 2024, bị cáo
6
đã tích cực giúp đỡ mọi người trong tổ dân phố nơi bị cáo sinh sống khắc phục hậu quả được tổ dân phố ghi nhận và Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Y xác nhận nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo là người cao tuổi, có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội, luôn chấp hành tốt đường lối chính sách của đảng, pháp luật của Nhà nước, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện tội phạm nhằm mục đích vụ lợi nên cần phạt bị cáo một khoản tiền để nộp ngân sách nhà nước;
[8] Về vật chứng, đồ vật tài sản thu giữ và biện pháp tư pháp:
- - Số tiền 500.000 đồng là của ông Đỗ Quang V không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Đỗ Quang V là phù hợp.
- - Đối với các điện thoại di động tạm giữ của Tạ Thị Thúy V1, Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Thị H2(sinh năm 1978), Nguyễn Thị T1, Đỗ Thị Kim C, Trần Thị Hải Đlà tài sản hợp pháp của họ, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả cho Tạ Thị Thúy V1, Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1978), Nguyễn Thị T1, Đỗ Thị Kim C, Trần Thị Hải Đ là phù hợp.
- - Số tiền 8.610.000 đồng (được niêm phong trong 01 phong bì giấy bên trong có 09 phong bì do phòng K công an tỉnh Y phát hành niêm phong ngày 20/5/2024) là tiền 10 người chơi sử dụng vào việc đánh bạc có liên quan đến việc phạm tội, cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
- - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại máy đen trắng, bàn phím cơ, lắp sim số 0399.393.974 do Phan Thị H tự giác giao nộp được niêm phong trong 01 phong bì giấy xét có liên quan đến việc phạm tội, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- - 01 chiếc chăn màu hồng có nhiều hoa văn, kích thước khoảng 1,6m x1,8m; 01 chiếc chăn màu đỏ, có nhiều hoa văn, kích thước khoảng 1,6m x1,8m đều đã qua sử dụng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, mặt sau màu xanh; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, mặt sau màu đỏ là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Đối với Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1978), Nguyễn Thị T1, Trần Thị Hải Đ, Đỗ Thị Kim C, Nguyễn Thị H2(sinh năm 1987), Nguyễn Thị Kiều T2, Vũ Thị Hạnh Q, Nguyễn Thị Thanh H2, quá trình điều tra xác định: Những người nêu trên đã thực hiện hành vi “Đánh bạc” tại nhà Phan Thị H; chia làm hai chiếu bạc với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc của mỗi chiếu đều dưới 5.000.000 đồng. Những người trên chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” do vậy hành vi của họ không cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Đối với Tạ Thị Thúy V1, ngày 03/03/2015, V1 cùng những người khác đánh bạc với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 4.030.000 đồng và bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 40/2015/HSST ngày 02/07/2015. Đến
7
nay, V1 đã chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ theo Quyết định số 01 ngày 12/02/2017; thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/8/2015; thi hành xong tiền phạt, tiền lãi chậm thi hành án và khấu trừ 10% thu nhập. Căn cứ điểm d, điểm g khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số: 41/2017QH14 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 thì hành vi của Tạ Thị Thúy V1 không cấu thành tội phạm “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên hành vi đánh bạc của 10 người nêu trên đã vi phạm điểm a khoản 2 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, Công an thành phố Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với ông Đỗ Quang V, quá trình điều tra xác định: ÔngVinh là chồng của Phan Thị H, nằm ngủ tại phòng khách, ông V không biết và không giúp sức cho Phan Thị H tổ chức đánh bạc tại nhà, do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với ông Đỗ Quang V.
Đối với ông Hoàng Minh H3, quá trình điều tra xác định: Ông H3 không biết C nhờ chở đi đánh bạc, ông H3 không tham gia đánh bạc. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông Hoàng Minh H3.
[10] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
[11] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo là người cao tuổi, có đề nghị được miễn án phí nên được miễn án phí.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Phan Thị H, phạm tội “Tổ chức đánh bạc”
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Phan Thị H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26 tháng 9 năm 2024).
Phạt bị cáo số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Giao bị cáo Phan Thị H cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
8
- - Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 8.610.000đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại máy đen trắng, bàn phím cơ, lắp sim số 0399.393.974
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc chăn màu hồng có nhiều hoa văn, kích thước khoảng 1,6m x1,8m; 01 chiếc chăn màu đỏ, có nhiều hoa văn, kích thước khoảng 1,6m x1,8m đều đã qua sử dụng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, mặt sau màu xanh; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, mặt sau màu đỏ
(Chi tiết đặc điểm đồ vật, tài sản theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về “Án phí và lệ phí Tòa án”. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Phan Thị H.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Văn |
9
10
11
12
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về tổ chức đánh bạc
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Hoa- Tổ chức đánh bạc
