|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày 12-6-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đinh Ngọc Phức
- Bà Phạm Thị Huệ
- Thư ký phiên toà: ông Trần Trung Đức - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã K, huyện H, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q, sinh năm 1998.
Nơi cư trú: thôn K, xã K, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị H (Đều đã chết); vợ, con: chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/02/2024, đến ngày 06/3/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
Những người làm chứng:
- Anh Lê Văn H1, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình. - Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 ngày 29/02/2024, tại đường T thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình, Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn Q có hành vi cất giấu tại túi áo khoác bên trái phía trước đang mặc 01 túi nilon trong suốt, một đầu có mép cài, trên mép cài có đường kẻ ngang màu xanh bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt. Q khai nhận là ma túy đá mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ) ở khu vực gần ngã tư thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình với giá 300.000 đồng, mục đích để sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành niêm phong túi nilon trên trước sự chứng kiến của anh Lê Văn H1 và anh Nguyễn Văn Đ. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Q, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 295/KL - KTHS ngày 04/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1750 gam (không phẩy một nghìn bảy trăm năm mươi gam).
Bản Cáo trạng số 52/CT- VKSHH ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, bị cáo Q thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản Cáo trạng.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 BLHS; xử phạt bị cáo Q từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/02/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 295/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T hoàn trả mẫu vật giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục số 29 đến số 34); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và bản ảnh tang vật (Bút lục số 33 - 34); Bản kết luận giám định số 295/KL - KTHS ngày 04/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (Bút lục số 43); Lời khai của những người làm chứng: anh Lê Văn H1 và anh Nguyễn Văn Đ (Bút lục từ số 71 đến số G). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 30 ngày 29/02/2024, tại đường T thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1998; Nơi thường trú: thôn K, xã K, huyện H, tỉnh Thái Bình có hành vi tàng trữ trái phép 0,1750 gam (không phẩy một nghìn bảy trăm năm mươi gam)” ma tuý loại Methamphetamine mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực điều khiển hành vi của mình, nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, làm suy kiệt kinh tế gia đình, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán...trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo có nhân thân tốt. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo nói riêng và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Bị cáo tàng trữ ma túy, mục đích là để sử dụng cho bản thân, bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc ma túy bị cáo Nguyễn Văn Q khai: 0,1750 gam loại Methamphetamine Công an huyện H thu ngày 29/02/2024, Q mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết họ, tên, địa chỉ) ở khu vực ngã tư thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình với giá 300.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh, ngoài lời khai của Q không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho Q nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
[6] Về xử lý vật chứng: 0,1474 (Không phẩy một nghìn bốn trăm bảy mươi bốn gam) là ma túy, loại Methamphetamine trong 01 phong bì niêm phong số 295/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T hoàn trả mẫu vật giám định thu của bị cáo Q là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/02/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu để tiêu huỷ 0,1474 (Không phẩy một nghìn bốn trăm bảy mươi bốn gam) là ma túy, loại Methamphetamine trong 01 phong bì số 295/KL - KTHS của Phòng K Công an tỉnh T hoàn trả mẫu vật giám định (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đang quản lý).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Q phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Nhàn |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Quân
