Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 362/2023/HS - ST

Ngày: 19/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vương Đình Quang

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hậu – Giáo viên

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Liên - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Lê Hoàng Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm,thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 371/TLST - HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 381/ QĐST ngày 06/12/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh ngày 07/06/2006 (Phạm tội khi 17 tuổi 03 tháng 16 ngày); Giới tính: Nữ; Nơi thường trú: TDP số 3, M, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn Q; Con bà: Nguyễn Thị S; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: không; D chỉ bản số 00800 lập ngày 05/10/2023 tại Công an quận N, Hà Nội; Bị cáo đầu thú và hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Người bị hại: anh Trần Thái S1 sinh năm: 2001, HKTT: TDP A, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi ở: số I, N, phường Q, quận C, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Phạm Quang M sinh năm 2001. HKTT: TDP số 1, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi ở: số I N, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: anh Nguyễn Văn Q sinh năm 1981 - là bố đẻ của bị cáo. Nơi thường trú: TDP số 3, M, phường T, quận N, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị N - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 9/2023, Nguyễn Anh T1 lập tài khoản facebook “Phạm Đại” (không có thông tin cá nhân của T1) để tham gia vào nhóm “Mua bán trao đổi điện thoại Iphone” với mục đích mua 01 chiếc điện thoại đời mới hơn chiếc điện thoại Iphone XS mà T1 đang sử dụng. Ngày 22/9/2023, T1 thấy tài khoản facebook “Phạm Quang M” của anh Phạm Quang M (sinh năm 2001, HKTT: TDP số 1, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi ở: số I N, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội) đăng bán 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax, dung lượng 128GB, màu xanh, số imei: 350879906348076 với giá là 16.500.000 đồng nên T1 sử dụng tài khoản facebook “Phạm Đ” nhắn tin với anh M để hỏi mua chiếc điện thoại trên. Quá trình trao đổi, T1 thấy M bán điện thoại của cá nhân (không phải chủ cửa hàng mua bán điện thoại) nên T1 đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 13 Promax này bằng cách sẽ giả vờ mua điện thoại, sau đó tìm cách bỏ trốn và chặn liên lạc để chiếm đoạt điện thoại nên T1 thỏa thuận với anh M sẽ thực hiện việc mua bán chiếc điện thoại vào trưa ngày 23/9/2023 tại sảnh Tòa nhà CT2, khu đô thị D, thuộc phường T, quận N, Hà Nội. Đến khoảng 12 giờ ngày 23/9/2023, do anh M bận việc nên đã nhờ anh Trần Thái S1 (sinh năm: 2001, HKTT: TDP A, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi ở: 92, N, phường Q, quận C, Hà Nội - là bạn của M) đi giao điện thoại cho T1. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, anh S1 điều khiển xe mô tô mang theo chiếc điện thoại Iphone 13 Promax đến sảnh Tòa nhà CT2, khu đô thị D để giao. Khi đến nơi, anh S1 gọi điện cho T1 từ số điện thoại 0869.104.xxx của mình đến số điện thoại 0337.684.xxx của T1 để giao điện thoại, T1 hẹn gặp S1 tại trước sảnh CT2 chung cư D. Tại đây, T1 cầm điện thoại giả vờ kiểm tra rồi bảo T1 không am hiểu về công nghệ và bảo S1 đem xe mô tô đi gửi dưới hầm gửi xe của Tòa nhà để cùng đi lên căn hộ của T1 tại Tòa nhà CT2 (thực tế, T1 không cư trú tại Tòa CT2 này) để nhờ chồng kiểm tra điện thoại, sau đó sẽ thực hiện việc mua bán. Do tin tưởng nên anh S1 đã điều khiển xe mô tô đi xuống hầm để gửi xe. Tận dụng cơ hội này, T1 cầm theo chiếc điện thoại Iphone 13 Promax và bỏ đi về nhà đồng thời T1 tắt nguồn điện thoại và cắt liên lạc với anh S1 và anh M sau đó đăng nhập tài khoản Icloud của T1 vào điện thoại để sử dụng. Anh S1 sau khi biết việc đã bị T1 lừa chiếm đoạt điện thoại nên thông báo cho anh Phạm Quang M biết, anh M sau đó đã đến Công an phường T, quận N để trình báo sự việc.

Đến ngày 24/9/2023, Nguyễn Thanh T đến Công an phường T đầu thú và giao nộp chiếc điện thoại Iphone 13 Promax đã chiếm đoạt.

Vật chứng thu giữ: 01 Iphone 13 Promax, 128GB màu xanh, Imei: 350879906348076, 01 sim điện thoại số 0337.684.xxx; 01 chiếc điện thoại Iphone XS màu đen là điện thoại T dùng để liên lạc, trao đổi việc mua bán với M và 01 áo chống nắng màu xanh dương do T mặc khi giao dịch với anh S1.

Tại Bản kết luận giám định tài sản số 224 ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận N, kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, 128GB, màu xanh, Imei: 350879906348076, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản là: 17.000.000 đồng.

Ngày 02/10/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax, 128GB, màu xanh, I: 350879906348076 đã thu giữ cho chủ sở hữu là anh Phạm Quang M. Anh M và anh Trần Thái S1 không yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thanh T phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác.

Tại Cáo trạng số 253/CT - VKSNTL ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu quan điểm đề nghị: Bị cáo Nguyễn Thanh T là học sinh còn đang đi học, khi phạm tội là người chưa thành niên nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về việc phạm tội, người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm nên cần áp dụng chính sách đối với người chưa thành niên phạm tội để tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tại địa phương.Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 174. Điểm b, i, s khoản 1,2 điều 51, điều 65, điều 90, điều 91, điều 101 Bộ Luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về dân sự: Người bị hại đã nhận tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự nên phần bồi thường đã được giải quyết.

Về vật chứng: Tịch thu 01 chiếc điện thoại Iphone XS màu đen là điện thoại sử dụng trong quá trình phạm tội. Tịch thu tiêu hủy: 01 áo chống nắng màu xanh dương thu giữ của T và 01 sim điện thoại.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Nguyên nhân phạm tội do bị cáo Nguyễn Thanh T là người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) nên nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về việc phạm tội, chưa tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo là học sinh còn đang đi học. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình éo le bố mẹ đã ly hôn vào năm 2018, bị cáo ở với bố. Do vậy, bị cáo bị ảnh hưởng bởi sự thiếu giám sát, giáo dục của cha mẹ. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51, điều 65, điều 90, điều 91, điều 101 Bộ luật Hình sự, thực hiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên là giúp đỡ người chưa thành niên nhận thức được sai lầm và cải tạo sửa chữa thành công dân có ích và cho bị cáo được hưởng án treo.

Ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị cáo: Người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng ý quan điểm của người bào chữa, không bổ sung gì thêm.

Bị cáo Nguyễn Thanh T khai tại phiên tòa như đã khai tại cơ quan điều tra về hành vi do mình thực hiện là phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tạo điều kiện cho bị cáo cảo tạo ngoài xã hội để bị cáo còn đi học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/09/2023, tại sảnh tòa nhà CT2, khu đô thị D, thuộc phường T, quận N, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thanh T đã có hành vi gian dối chiếm đoạt 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, dung lượng 128G, màu xanh, đã qua sử dụng, trị giá 17.000.000 đồng của anh Trần Thái S1 (là tài sản của anh Phạm Quang M nhờ anh S1 đi giao hàng hộ).

Bị cáo nhận tội. Tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Anh Trần Thái S1 không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Lời khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 điều 174 Bộ Luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội. Quan điểm của người bào chữa đối với bị cáo Nguyễn Thanh T là có cơ sở được chấp nhận.

[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc nhằm đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Thanh T có nhận thức pháp luật nhưng do lòng tham nên đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác để sử dụng cá nhân nên phạm tội. Tuy nhiên, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về việc phạm tội, tài sản đã được trả lại cho người bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, là học sinh đang còn đi học nên cần áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại điều 91, điều 98, điều 101 Bộ luật Hình sự đề giảm nhẹ hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và xét thấy cần tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục học tập, cải tạo trở thành công dân có ích nên cho bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thanh T theo quy định tại Khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự.

[5] Về dân sự: Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax, 128GB, màu xanh, I: 350879906348076 đã thu giữ cho chủ sở hữu là anh Phạm Quang M. Anh M và anh Trần Thái S1 không yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự nên phần dân sự đã được giải quyết.

[6] Về vật chứng: 01 chiếc điện thoại Iphone XS màu đen là điện thoại T dùng để liên lạc, trao đổi việc mua bán điện thoại với người bị hại M là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. 01 áo chống nắng màu xanh dương thu giữ của T và 01 sim điện thoại cần tịch tiêu hủy.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

1/ Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm b,i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, điều 91, điều 98, điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,

thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thanh T cho Ủy ban nhân dân phường T, quận N, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án Hình sự

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/ Căn cứ vào Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Dân sự: Không

Vật chứng: Tịch thu sung quỹ 01 chiếc điện thoại Iphone XS màu đen, đã qua sử dụng, Imei: 357210090505524 của Nguyễn Thanh T. Tịch thu tiêu hủy 01 áo chống nắng màu xanh dương, đã qua sử dụng thu giữ của T. Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại

(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng số 55 ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm Hà Nội)

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, Người bị hại;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm +HN
  • - TAND Tp Hà Nội
  • - Công an quận Nam Từ Liêm
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm
  • - Lưu hồ sơ + văn phòng Toà án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Thị Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 362/2023/HS - ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 362/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger