|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 339/2023/HS - ST Ngày: 04/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Minh Thân
2. Ông Nguyễn Tiến Chuyển
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Nguyễn Thị Phương Liên - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Vũ Lê Thành Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 348/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 354 ngày 23/11/2023 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Minh K Sinh năm 1998; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT và chỗ ở: khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không ; Con ông: Hoàng Văn T; Con bà: Cấn Thị T1; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án tiền sự: 01 tiền án: Bản án 24/2022/HSST, Ngày 01/7/2022, TAND huyện Tam Nông, Phú Thọ xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 13/5/2023; D chỉ bản số 0634 do công an quận N lập ngày 09 tháng 8 năm 2023. Bị cáo bị bắt khẩn cấp. Tạm giữ từ ngày 31/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S – Công an thành phố H. Số giam: 4123C2/05. Có mặt tại phiên tòa
2. Tạ Hải L, Sinh năm: 1999; Giới tính: nam; Tên gọi khác: không; ĐKHKTT và chỗ ở: khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: lao động tự do; Văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Tạ Xuân H Con bà: Hoàng Thị Lăng V, con: chưa có; Tiền án tiền sự: không ; D chỉ bản số 0635 do công an quận N lập ngày 09 tháng 8 năm 2023. Bị cáo bị bắt khẩn cấp. Tạm giữ từ ngày 31/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S – Công an thành phố H. Số giam: 4125C2/17. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 30/7/2023, Tổ công tác Công an phường M, N, Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà trọ M ở số A, ngõ G đường L, Tổ A, M, N, Hà Nội phát hiện trong phòng 103 có Hoàng Minh K và Tạ Hải L có nghi vấn sử dụng ma túy, phía trên đầu giường trong phòng có 02 túi nilon màu trắng (kích thước 3x5cm), bên trong chứa thảo mộc khô nghi là ma túy. Tại chỗ, K và L khai trước đó cả hai đã cùng sử dụng ma túy “cỏ Tobaco” bằng hình thức quấn vào vỏ thuốc lá để hút, thảo mộc khô bên trong 02 túi nilon là số ma túy “cỏ Tobaco” còn lại chưa sử dụng hết. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật, đưa K và L về trụ sở làm rõ.
Vật chứng thu giữ: 02 (hai) túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi có chứa thảo mộc khô nghi là ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 gắn sim số 0976515431 (thu giữ của Tạ Hải L).
Tại Bản kết luận giám định số 5215/KLGĐ ngày 07/8/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilon có tổng khối lượng: 2,343 gam đều có ma túy ADB – BUTINACA.
Quá trình điều tra xác định:
Hoàng Minh K và Tạ Hải L là bạn cùng quê và đều từng sử dụng ma túy loại ADB – BUTINACA hay còn gọi là “cỏ T2” hoặc “Cỏ Mỹ”. Ngày 26/7/2023, K và L rủ nhau đi xe khách đi từ Phú Thọ đến Hà Nội thuê phòng 103 nhà nghỉ M1 ở số A, ngõ G đường L, Tổ A, M, N, Hà Nội để ở trong thời gian tìm làm việc. Khoảng 10 giờ ngày 30/7/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L bảo K đi tìm mua ma túy “cỏ T2” để cả hai sử dụng. K đồng ý và sử dụng tài khoản “Khương Dừa” (đăng ký bằng sim số rác, không nhớ số điện thoại và mật khẩu đăng nhập) vào nhóm “T5” hỏi mua 02 túi ma túy “cỏ Tabaco” thì có một người đàn ông số điện thoại 0335.305.xxx báo giá bán 02 túi ma tuý "Cỏ T2" giá 200.000 đồng. K và L bàn bạc, thống nhất K sẽ trả tiền mua ma túy "cỏ Tobaco" còn L sẽ trả tiền thuê phòng nghỉ để cả hai cùng sử dụng ma túy. Sau đó, K sử dụng điện thoại Nokia 1280 gắn sim số 0976515431 của L gọi vào số điện thoại 0335.305.xxx của người đàn ông bán ma túy đặt mua 02 túi ma túy "cỏ T2" với giá 200.000 đồng, thoả thuận giao đến ngõ G đường L, tổ A, M, N, Hà Nội. Do không còn đủ tiền nên K mang chiếc điện thoại Iphone X của mình đi bán cho cửa hàng mua bán điện thoại cũ ở gần nhà nghỉ (không nhớ thông tin, địa chỉ cụ thể) được 1.000.000 đồng rồi quay lại phòng trọ. Khoảng 11 giờ cùng ngày, có một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0777.799.xxx gọi vào số điện thoại 0976.515.xxx của L để giao ma tuý và yêu cầu trả thêm 50.000 đồng tiền phí giao hàng. L báo lại cho K thì được K đưa cho 500.000 đồng, sau đó, L một mình ra đầu ngõ 7 Lê Đức T3 đưa cho người đàn ông sử dụng số điện thoại 0777.799.xxx (không xác định được nhân thân) mua được 02 túi nilon chứa ma tuý "Cỏ Tobaco" và trả cho người đàn ông 250.000 đồng. Số tiền còn lại L mang về phòng trả lại cho K. Khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, L mang ma túy về phòng và để trên đầu giường thì K lấy một phần "cỏ Tobaco" vừa mua được cho vào trong điếu thuốc lá đã bỏ sẵn lõi rồi châm lửa hút. Khương hút được 2 hơi thì đưa cho L cùng sử dụng. Sau khi hút xong, L vứt đầu lọc của điếu thuốc vào thùng rác (không thu giữ được) rồi nằm nghỉ tại phòng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày. Tổ công tác Công an phường M đi kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ M1 thì phát hiện, thu giữ 02 túi ma tuý mà K và L chưa sử dụng hết tại phòng nên đã lập biên bản, thu giữ tang vật.
Tại Cơ quan điều tra, L và K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Hoàng Minh K và Tạ Hải L sử dụng số điện thoại 0335.305.xxx, K và L khai không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh xác định chủ đăng ký thuê bao là Phạm Văn T4 (Địa chỉ: Y, Y, Ninh Bình). Xác minh tại Công an xã Y, Y, kết quả: trên địa bàn xã Y không có người nào tên Phạm Văn T4 có thông tin như trên. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ và xử lý.
Đối với đối tượng giao ma túy cho Hoàng Minh K và Tạ Hải L sử dụng số điện thoại 0777.799.xxx, K và L khai không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh xác định chủ thuê bao là chị Trần Thị Kim H1 (sinh năm: 1993; HKTT: Cổ Nhuế 2, B, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, chị H1 khai mua và đăng ký sử dụng sim số trên từ năm 2018. Đến năm 2020 chị H1 làm rơi điện thoại gắn sim số này, sau đó chị H1 không làm lại sim mà mua sim số điện thoại mới để sử dụng. Từ đó đến nay không dùng và không biết ai sử dụng sim số này. Chị H1 không quen biết K và L. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã rà soát nhưng không thu thập được thông tin liên quan, không xác định được nhân thân đối tượng. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ và xử lý.
Lời khai nhận tội của Hoàng Minh K và Tạ Hải L phù hợp với nhau, phù hợp với tang vật thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 332/CT – VKSNTL ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội truy tố ra trước Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm để xét xử bị cáo Hoàng Minh K và Tạ Hải L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 đối với cả hai bị cáo. Đối với bị cáo K áp dụng thêm điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt bị cáo: Hoàng Minh K từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Bị cáo Tạ Hải L từ 28 tháng tù đến 32 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo.
Tịch thu tiêu huỷ: 2,343 gam đều có ma túy ADB – BUTINACA là vật chứng của vụ án. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 gắn sim số 0976515431 thu giữ của Tạ Hải L.
Bị cáo Hoàng Minh K và bị cáo Tại Hải L1 khai nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 30/7/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy “cỏ Tobaco” nên Tạ Hải L bàn bạc, thống nhất Hoàng Minh K sẽ liên hệ mua và trả tiền ma túy, còn L trả tiền thuê phòng 103 nhà nghỉ M1 ở số A, ngõ G, đường L, tổ A, M, N, Hà Nội để cả hai cùng sử dụng. Sau đó, K liên hệ với một người đàn ông (không xác định được nhân thân) mua được 02 túi ma túy “cỏ T2” với giá 250.000 đồng rồi cả hai cùng sử dụng một phần ma túy “cỏ T2” vừa mua được bằng cách cho vào lõi điếu thuốc lá và hút. Số ma túy còn lại K và L để trên đầu giường dự định sẽ cùng nhau sử dụng sau. Đến khoảng 10h 30 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an phường M 2 kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ M1 đã phát hiện thu giữ tang vật.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận các bị cáo Hoàng Minh K và Tạ Hải L bàn bạc, thống nhất cùng góp tiền mua ma túy, trả tiền thuê địa điểm bố trí, sắp xếp địa điểm để sử dụng trái phép chất ma túy, cùng thực hiện tội phạm đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước trong quản lý chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Ma túy là chất gây nghiện gieo rắc nhà tan, cửa nát, suy kiệt kinh tế và sức khỏe con người. Do vậy cần xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo.
[4] Xét vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:
Các bị cáo cùng nhau góp tiền, bị cáo K trả tiền mua ma túy, bị cáo L trả tiền thuê địa điểm, cả hai cùng sử dụng ma túy nên vai trò của các bị cáo như nhau trong vụ án. Các bị cáo nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Cả hai bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về việc phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Nhân thân bị cáo L chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy cần giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo Hoàng Minh K có 01 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này là tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xử phạt bị cáo K cao hơn bị cáo L.
Xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[5] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 2,343 gam đều có ma túy ADB – BUTINACA. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 gắn sim số 0976515431 thu giữ của Tạ Hải L là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Minh K, Tạ Hải L phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: bị cáo Hoàng Minh K 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/7/2023.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: bị cáo Tạ Hải L 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/7/2023.
- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình Sự. Các điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tịch thu tiêu hủy: 01(Một) phong bì niêm phong có chữ ký của Hoàng Minh K, Tạ Hải L, cán bộ công an và giám định viên.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen gắn 01 sim.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 42 ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm)
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Thị Khanh |
Bản án số 339/2023/HS - ST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 339/2023/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Hoàng Minh K, Tạ Hải L phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
