|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ TỈNH HÀ TĨNH ————— |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 30/2024/HS-ST
Ngày: 05/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Minh và ông Phan Văn Tiến.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát viên nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Vào hồi 14 giờ 15 phút ngày 05/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 26/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 13/8/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 427/2024/TB-TA ngày 27/8/2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn L; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 06/02/1989; quê quán: Xã G, huyện H; cư trú: Thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ở hiện tại: K, thị trấn H, huyện H; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Song H và bà Phạm Thị D; vợ Trần Thị Thu H1; con: 03 đứa (lớn sinh năm 2017, út sinh năm 2023); anh, chị, em ruột có 03 người (bị cáo là con thứ hai); chức vụ, đoàn thể, chính quyền: Không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/10/2008 TAND quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” bản án số 328/2008/HSST; ngày 20/4/2009 TAND tỉnh Bình Định xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” bản án số 71/2009/HSPT, tổng hợp bản án số 328/2008/HSST ngày 10/10/2008 TAND quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc phải chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là 07 năm tù; ngày 31/7/2009, của TAND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” bản án số 39/2009/HSST, tổng hợp hình phạt tại bản án số 71/2009/HSPT ngày 20/4/2009 TAND tỉnh Bình Định xử phạt 07 năm tù, buộc phải chấp hành hình phạt chung 08 năm tù, chấp hành xong hình phạt và đã được xoá án tích. Bị cáo bị tạm gam từ ngày 09/4/2024 đến ngày 12/7/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Trung K; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 12/5/1985; quê quán: Xã P, huyện H; cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trí H2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; vợ, con: Chưa; anh, chị, em ruột có 04 người (bị cáo là con thứ ba); chức vụ, đoàn thể, chính quyền: Không; tiền sự, nhân thân: Không; tiền án: Ngày 16/6/2017 Tòa án thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” bản án số: 61/2017/HSST, chấp hành xong hình phạt ra trại ngày 02/02/2020; ngày 26/3/2021 Tòa án huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” bản án số 14/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 21/8/2021, chưa chấp hành xong bản án nên chưa xoá án tích. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến ngày 20/7/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 11/9/1986; quê quán: Xã P, huyện H; cư trú: Thôn P, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Lê Thị S; vợ: Nguyễn Thị L2; con: 02 đứa (lớn sinh năm 2014, út sinh năm 2016); anh, chị, em ruột có 05 người (bị cáo là con thứ năm); chức vụ, đoàn thể, chính quyền: Không; tiền sự, nhân thân: Không; tiền án: ngày 26/3/2021 Tòa án huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” bản án số 14/2021/HSST, chấp hành xong ngày 06/3/2023 nhưng chưa được xoá án tích. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến ngày 20/7/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Võ Huy N, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn I, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
- + Anh Phan Thanh T, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
- + Anh Vũ Đình T1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
- + Anh Hồ Bá Q, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
- + Anh Hồ Sỹ Đ1, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
- + Anh Hoàng Lê L3, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
- + Anh Trần Tùng N1, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
- + Anh Kiều Viết H3, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
- + Chị Trần Thị Thu H1, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Phạm Anh T2, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 22/10/2023, Võ Huy N cùng với Phan Thanh T; Nguyễn Trung K, Hồ Bá Q và Nguyễn Văn L; Hồ Sỹ Đ1; Hoàng Lê L3; Nguyễn Văn Đ cùng tham gia ăn uống tại nhà anh Trương Hữu Đ2 tại tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H. Trong quá trình ăn uống Võ Huy N nói ăn uống xong thì về nhà Nguyễn Văn L để đánh bạc, lúc này Nguyễn Văn L, Phan Thanh T, Nguyễn Trung K, Hồ Sỹ Đ1, Hoàng Lê L3 đang có mặt nghe được và không nói gì. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Võ Huy N cùng Hồ Sỹ Đ1, Phan Thanh T đến nhà L; Nguyễn Văn Đ trên đường đi về nhà mình thì thấy nhà L đông người nên cũng vào ngồi chơi. Nguyễn Văn L mang theo 02 bộ bài tú lơ khơ từ nhà anh Trương Hữu Đ2 về nhà mình rồi trải chiếu tại phòng khách và đặt 02 bộ bài lên chiếu để những người có mặt đánh bạc với nhau. N, Đ1, Đ và Phan Thanh T cùng ngồi xuống chiếu đánh bạc dưới hình thức đánh bài poker, cá cược thắng thua bằng tiền Việt Nam đồng. Một lúc sau có Nguyễn Trung K; Hồ Bá Q; Hoàng Lê L3; Vũ Đình T1, Trần Tùng N1, Kiều Viết H3 cũng đi đến nhà L và tham gia đánh bạc cùng. Do không mang theo tiền nên Kiều Viết H3 đã vay của Nguyễn Văn L 1.000.000 đồng. Sau khi mượn được tiền, H3 lại cho Hồ Sỹ Đ1 vay 200.000 đồng còn mình sử dụng số 800.000 đồng để đánh bạc (lúc này 10 đối tượng cùng tham gia đánh bạc với tang số 4.320.000 đồng).
Sau khi đánh bạc với nhau được một lúc, do số lượng người đông nên các đối tượng tự chia thành hai chiếu bạc để tiếp tục đánh bạc với nhau. Thấy vậy, Nguyễn Văn L lấy thêm một chiếc chiếu trải tại phòng bếp để N, L3, Đ, H3 và Vũ Đình T1 đánh bạc, còn lại K, Q, N1, Đ1 và Phan Thanh T vẫn tiếp tục đánh bạc tại phòng khách. Khi đánh bạc tại phòng bếp, do số lượng tiền còn ít nên Kiều Viết H3 tiếp tục hỏi vay Nguyễn Văn L 1.000.000 đồng, L đi vào phòng ngủ gặp chị Trần Thị Thu H1 (vợ L) mượn 1.000.000 đồng rồi đưa cho H3 vay để đánh bạc. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, bị Công an huyện H kiểm tra, phát hiện, bắt giữ Phan Thanh T, Nguyễn Trung K (chiếu bạc thứ nhất) và Kiều Viết H3, Võ Huy N, Hoàng Lê L3 (tại chiếu bạc thứ hai); các đối tượng Hồ Bá Q, Trần Tùng N1, Hồ Sỹ Đ1 (tại chiếu bạc thứ nhất), Vũ Đình T1, Nguyễn Văn Đ (tại chiếu bạc thứ hai) bỏ chạy.
Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận: Phan Thanh T mang theo 200.000 đồng để đánh bạc, kết quả đánh bạc hoà, bị thu giữ 200.000 đồng; Nguyễn Trung K mang theo 150.000 đồng để đánh bạc, kết quả đánh bạc thua 50.000 đồng, bị thu giữ 100.000 đồng; Hồ Bá Q mang theo 300.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 160.000 đồng, còn lại 140.000 đồng bỏ lại tại chiếu bạc trong quá trình bỏ chạy; Trần Tùng N1 mang theo 300.000 đồng để đánh bạc, kết quả thắng 340.000 đồng, bỏ lại 640.000 đồng tại chiếu bạc trong quá trình bỏ chạy; Hồ Sỹ Đ1 mang theo 200.000 đồng và mượn thêm Kiều Viết H3 200.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 200.000 đồng, bỏ lại 200.000 đồng tại chiếu bạc trong quá trình bỏ chạy; Võ Huy N mang theo 600.000 đồng để đánh bạc, kết quả đánh bạc thua 50.000 đồng, bị thu giữ 550.000 đồng; Kiều Viết H3 mượn tiền của Nguyễn Văn L (hai lần) với tổng số tiền 2.000.000 đồng, H3 cho Đ1 vay 200.000 đồng, còn lại 1.800.000 đồng dùng để đánh bạc, kết quả thua 470.000 đồng, còn lại 1.330.000 đồng bị thu giữ; Hoàng Lê L3 mang theo 2.330.000 đồng nhưng sử dụng 1.770.000 đồng để đánh bạc (còn 560.000 đồng cất trong ví để ở túi quần sau không sử dụng đánh bạc), kết quả thua 100.000 đồng, còn lại 1.670.000 đồng bị thu giữ; Vũ Đình T1 mang theo khoảng 176.000 đồng, sử dụng 170.000 đồng để đánh bạc (còn 6.000 đồng để ở túi áo không sử dụng đánh bạc), kết quả hoà, bỏ lại 170.000 đồng trong quá trình bỏ chạy; Nguyễn Văn Đ mang theo số tiền khoảng 105.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc (còn 5.000 đồng để ở túi áo không sử dụng đánh bạc), kết quả thắng 30.000 đồng, bỏ lại số tiền 130.000 đồng tại chiếu bạc trong quá trình bỏ chạy.
Như vậy, các đối tượng khai nhận tổng số tiền mang theo để đánh bạc là 5.801.000 đồng, nhưng tổng số tiền khi bị phát hiện và thu giữ là 5.320.000 đồng. Tuy nhiên, ngoài 10 đối tượng trên thì không còn người nào khác tham gia đánh bạc cùng, ngoài lời khai của các đối tượng thì không có căn cứ để xác định được số tiền các đối tượng mang theo để sử dụng đánh bạc. Do đó, xác định tổng số tiền sử dụng để đánh bạc của hai chiếu bạc là 5.320.000 đồng, trong đó số tiền dùng để đánh bạc tại chiếu bạc thứ nhất là 1.470.000 đồng (gồm Phan Thanh T, Nguyễn Trung K, Hồ Bá Q, Trần Tùng N1 và Hồ Sỹ Đ1), tại chiếu bạc thứ hai là 3.850.000 đồng (gồm Võ Huy N, Hoàng Lê L3, Nguyễn Văn Đ, Kiều Viết H3, Vũ Đình T1).
Quá trình điều tra xác định, tại Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 26/3/2021 của TAND huyện Hương Khê, Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đ bị kết án về tội Đánh bạc, hiện chưa được xóa án tích.
Hình thức chơi và mức cá cược được các đối tượng thống nhất như sau: Người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ quân A đến quân K. Mỗi ván bài bắt đầu khi người chơi tự đặt cược số tiền 10.000 đồng (gọi là tẩy), rồi người cầm cái phát cho mỗi người chơi 02 quân bài, sau đó phát thêm 03 quân bài chung để lật ngửa ở giữa chiếu bạc, mỗi người chơi xem và kết hợp với quân bài của mình tạo thành điểm bài cao hay thấp để đặt thêm tiền cược hoặc bỏ cuộc. Tiếp đó người cầm cái phát thêm 01 quân bài để lật ngửa vào 03 quân bài chung trên chiếu bạc trước đó, rồi người chơi xem và kết hợp với quân bài của mình để liên kết lại với nhau thành điểm bài cao hay thấp, để đặt thêm tiền cược. Cuối cùng, người cầm cái phát thêm 01 quân bài nữa để lật ngửa vào 04 quân bài chung, sau đó những người chơi đối chiếu 02 quân bài của mình kết hợp với 05 quân bài chung có trên chiếu bạc để liên kết lại với nhau tạo thành điểm bài cao hay thấp, rồi đặt thêm tiền cược và xét kết quả thắng thua với nhau. Nếu người chơi thắng cuộc thì sẽ được tổng số tiền do các người chơi khác đã bỏ ra trong ván bạc và người thắng cuộc được phát bài (làm cái) ở ván bạc tiếp theo. Điểm bài cao hay thấp được các đối tượng thống nhất với nhau như sau:
- Một lá bài gồm hai phần: số hoặc chữ (A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K) và chất (Cơ, rô, chuồn, bích); Giá trị quân bài chỉ phụ thuộc vào số, xếp theo thứ tự mức độ giảm dần là A, K, Q, J, 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2; Liên kết 05 quân bài có mức độ giảm dần được quy định theo thứ tự như sau: Thứ nhất là “Thùng phá sảnh”: 02 quân bài của người chơi kết hợp với 05 quân bài chung ở trên chiếu bạc tạo thành các quân bài liên tiếp và đồng chất; Thứ hai là “Tứ quý”: 02 quân bài của người chơi kết hợp với 05 quân bài chung ở trên chiếu bạc tạo thành tứ quý (04 quân bài có số hoặc chữ giống nhau); Thứ ba là “Cù lũ”: 02 quân bài của người chơi kết hợp với 05 quân bài chung ở trên chiếu bạc tạo thành 1 Sam (tức 03 quân bài có số hoặc chữ giống nhau) và 01 đôi (02 quân bài có số hoặc chữ giống nhau); Thứ tư là “Thùng”: 02 quân bài của người chơi kết hợp với 03 trong 05 quân bài chung ở trên chiếu bạc tạo thành 05 quân bài cùng chất (không liên tiếp); Thứ năm là “Sảnh”: 02 quân bài của người chơi kết hợp với 05 quân bài chung ở trên chiếu bạc tạo thành các quân bài liên tiếp nhau, không cùng chất; Thứ sáu là “Sam”: 02 quân bài của người chơi kết hợp với 01 trong 05 quân bài chung ở trên chiếu bạc tạo thành 03 quân bài có số hoặc chữ giống nhau; Thứ bảy là “Hai đôi” (Thú): 02 quân bài của người chơi kết hợp với 05 quân bài chung ở trên chiếu bạc tạo thành 2 đôi (02 quân bài có số hoặc chữ giống nhau); Thứ 8 là “Một đôi”: 01 trong 02 quân bài của người chơi kết hợp với 01 trong 05 quân bài chung ở trên chiếu bạc tạo thành 1 đôi (02 quân bài có số hoặc chữ giống nhau); Thứ chín là “Mậu thầu”: 02 quân bài của người chơi kết hợp với 05 quân bài chung ở trên chiếu bạc tạo thành 05 quân bài không có liên kết với nhau, không đồng chất.
* Vật chứng vụ án: Thu giữ tại hiện trường: 02 bộ bài tú lơ khơ, mặt sau màu xanh, mỗi bộ có 52 quân, trong đó 01 bộ bài thu giữ tại phòng khách và 01 bộ bài thu giữ tại phòng bếp; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh, kích thước (1,8x2)m, đã qua sử dụng (thu giữ tại phòng khách); 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ, kích thước (3,6x2)m, đã qua sử dụng (thu giữ tại phòng bếp); số tiền 5.320.000 đồng, trong đó thu giữ tại chiếu bạc phòng khách số tiền 1.470.000 đồng và thu giữ tại chiếu bạc phòng bếp số tiền 3.850.000 đồng; số tiền 560.000 đồng (thu giữ trong ví để ở túi quần phía sau bên phải của Hoàng Lê L3); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave A, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 38B1-245.31, xe đã qua sử dụng (thu của Phan Thanh T); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đỏ đen, biển kiểm soát 99V1-1542, xe đã qua sử dụng (thu của Vũ Đình T1); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave A, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 38B1-264.01, xe đã qua sử dụng (thu của Nguyễn Văn Đ); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH 125I, màu xanh đen, biển kiểm soát 38P1-542.63, xe đã qua sử dụng (thu của Kiều Viết H3). Quá trình điều tra xác định Phan Thanh T, Vũ Đình T1, Nguyễn Văn Đ và Kiều Viết H3 không sử dụng xe mô tô của mình để đánh bạc; Hoàng Lê L3 không sử dụng 560.000 đồng (để ở trong ví sau túi quần) để đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho các chủ sở hữu. Còn các vật chứng còn lại là 02 bộ bài tú lơ khơ, 02 chiếc chiếu và số tiền 5.320.000 đồng đã chuyển Chi cục THADS huyện H, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKS-HK, ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn Linh về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên xử:
* Trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng về tội “Tổ chức đánh bạc”; Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đ; riêng bị cáo Nguyễn Trung K căn cứ thêm khoản 1 Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng bị cáo được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến ngày 20/7/2024; bị cáo Nguyễn Văn Đ căn cứ thêm Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, đều về tội “Đánh bạc”.
* Hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đồng đ có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên miễn phạt tiền cho các bị cáo.
* Vật chứng vụ án: Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu, tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ, 02 chiếc chiếu đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê và CQCSĐT Công an huyện H, vì đây là các vật liên quan đến tội phạm và không có giá trị sử dụng;
+ Tịch thu số tiền 5.320.000 đồng sử dụng vào hành vi phạm tội để sung quỹ nhà nước theo giấy ủy nhiệm chi ngày 30/7/2024 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê.
Các bị cáo đều thừa nhận như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là đúng và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê và Kiểm sát viên: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
[2] Những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Võ Huy N, anh Phan Thanh T, anh Vũ Đình T1, anh Hồ Bá Q, anh Hồ Sỹ Đ1, anh Hoàng Lê L3, anh Trần Tùng N1, anh Kiều Viết H3 và chị Trần Thị Thu H1; người làm chứng anh Phạm Anh T2 đều đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa, Hội đồng xét xử, xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến trong vụ án nên quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Tình tiết định tội, định khung, tính chất mức độ hành vi phạm tội:
- Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đ đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai các bị cáo có trong giai đoạn điều tra, phù hợp các biên bản sự việc, biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; biên bản khám xét, bản tường trình, lời khai người liên quan và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định vào khoảng 20 giờ ngày 22/10/2023 do quen biết nên Nguyễn Văn L tại nhà mình đã cho Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đ (đang có tiền án về tội Đánh bạc) cùng với Võ Huy N, Hồ Sỹ Đ1, Phan Thanh T, Hồ Bá Q, Hoàng Lê L3, Vũ Đình T1, Trần Tùng N1 và Kiều Viết H3 đánh bạc bằng hình thức đánh bài Poker, thắng thua bằng tiền. Sau khi đánh bạc được một lúc, do đông người nên tách ra thành 02 chiếu bạc thì Nguyễn Văn L lấy thêm 01 chiếc chiếu nhựa trải tại phòng bếp để N, L3, Đ, H3 và Vũ Đình T1 tiếp tục đánh bạc, còn lại K, Q, N1, Đ1 và Phan Thanh T vẫn tiếp tục đánh bạc tại phòng khách. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện H phát hiện thu giữ 1.470.000 đồng tại chiếu bạc phòng khách và 3.850.000 đồng tại chiếu bạc phòng bếp dùng để đánh bạc. Trong vụ án này, Nguyễn Văn L là người cho các đối tượng sử dụng chỗ ở thuộc quyền quản lý của mình để cho hai chiếu bạc với 10 đối tượng đánh bạc trong cùng một lúc với tổng số tiền dùng đánh bạc là 5.320.000 đồng. Các bị cáo Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đ đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, tuy tang số đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng đang có tiền án về tội đánh bạc. Hành vi đó của bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; các bị cáo Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có gì oan sai.
- Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến nếp sống văn minh của xã hội, đến an toàn trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được Nhà nước nghiêm cấm việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc dưới mọi hình thức nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân các bị cáo vẫn thực hiện tội phạm đánh bạc bằng hình thức đánh bài Poker, thắng thua bằng tiền với lỗi cố ý, chứng tỏ các bị cáo liều lĩnh, coi thường pháp luật, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn L trong vụ án là độc lập, không liên quan; Còn hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đ là đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, câu kết chặt chẻ. Xét vị trí, vai trò các bị cáo; tình tiết tăng nặng, nhân thân và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo trong vụ án như sau:
- Bị cáo Nguyễn Văn L là người giữ vai trò chính trong vụ án là người trực tiếp cho sử dụng chỗ ở, nhà ở thuộc quyền quản lý của mình tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H để cho hai chiếu bạc với 10 đối tượng đánh bạc trong cùng một lúc với tổng số tiền dùng đánh bạc là 5.320.000 đồng và cho các đối tượng khác vay tiền. Bị cáo L đã ba lần bị Tòa án đưa ra xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã được xóa án tích từ lâu và bị cáo cũng thể hiện thái độ ăn năn chấp hành hết các quyết định của bản án, mặt khác việc bị cáo L tổ chức đánh bạc như trên là bộc phát, cả nể vì ham vui, không được hưởng lợi gì và ngoài ra cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; vợ đang có thai và nuôi con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình UBND xã đề nghị giảm nhẹ hình phạt, được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Đối với bị cáo Nguyễn Trung K là đồng phạm với vai trò là người thực hành trong vụ án, bị cáo đã trực tiếp đánh bạc với các đối tượng khác với tổng số tiền ít là 150.000 đồng, mặc dù tang số bị cáo sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng bị cáo đang có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và một tiền án về tội “Đánh bạc” do đó bị cáo K phải chụi trách nhiệm hình sự và bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xử bị cáo mức án nghiêm, cao hơn bị cáo Nguyễn Văn Đ và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình hoàn cảnh khó khăn được UBND xã xác nhận quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần.
- Còn bị cáo Nguyễn Văn Đ cũng là đồng phạm, là người giữ vai trò thứ yếu, với vai trò là người thực hành trong vụ án, bị cáo đã trực tiếp đánh bạc với bị cáo khác, tổng số tiền rất ít là 105.000 đồng, mặc dù tang số bị cáo sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng bị cáo đang có một tiền án về tội “Đánh bạc” nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; UBND xã đề nghị giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có thời gian tham gia trong quân đội được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần. Vì vậy cần xử bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đ, Hội đồng xét xử cần xử các bị cáo mức án phù hợp đảm bảo tính nghiêm minh và khoan hồng của pháp luật như lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay.
[5] Hình phạt bổ sung: Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cần xử phạt tiền để sung qũy nhà nước các bị cáo Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn Đ. Căn cứ khoản 3 Điều 322, điểm e khoản 2 Điều 32, khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 20.000.000 đồng; căn cứ khoản 3 Điều 321, điểm e khoản 2 Điều 32, khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 10.000.000 đồng. Riêng bị cáo Nguyễn Trung K hoàn cảnh kinh tế gia đình rất khó khăn, chưa có vợ con, nay phải đi chấp hành hình phạt tù nên miễn phạt tiền cho bị cáo.
[6] Các hành vi khác: - Trong vụ án này có Võ Huy N, Phan Thanh T, Vũ Đình T1, Hồ Bá Q, Hồ Sỹ Đ1, Hoàng Lê L3, Trần Tùng N1 và Kiều Viết H3 là những người cùng đánh bạc với các bị can Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đ nhưng tang số khi có 10 người cùng tham gia đánh bạc là 4.320.000 đồng và các đối tượng trên chưa bị xử phạt hành chính hay bị kết án về các tội liên quan đến hành vi đánh bạc. Do đó, hành vi đánh bạc của Võ Huy N, Phan Thanh T, Vũ Đình T1, Hồ Bá Q, Hồ Sỹ Đ1, Hoàng Lê L3, Trần Tùng N1 và Kiều Viết H3 không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã chuyển hồ sơ đề nghị và UBND huyện H đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên là đúng quy định pháp luật, Viện kiểm sát không truy tố nên miễn xét.
- Đối với chị Trần Thị Thu H1 là người cùng với bị can Nguyễn Văn L quản lý, sử dụng ngôi nhà và là người cho L mượn 1.000.000 đồng nhưng chị H1 không biết L sử dụng số tiền cho vay vào mục đích đánh bạc và cũng không biết các đối tượng sử dụng nhà ở của mình để làm địa điểm đánh bạc nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để kết luận, Viện kiểm sát không truy tố nên miễn xét.
[7] Vật chứng vụ án: Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu, tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ, 02 chiếc chiếu đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê và CQCSĐT Công an huyện H, vì đây là các vật liên quan đến tội phạm và không có giá trị sử dụng;
+ Tịch thu số tiền 5.320.000 đồng sử dụng vào hành vi phạm tội để sung quỹ nhà nước theo giấy ủy nhiệm chi ngày 30/7/2024 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê.
[8] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Quan điểm đề nghị xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa phù hợp nhận định Hội đồng xét xử và đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
* Trách nhiệm hình sự:
- + Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05 tháng 9 năm 2024).
- + Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng bị cáo được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến ngày 20/7/2024.
- + Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đồng phạm t “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05 tháng 9 năm 2024).
Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H và bị cáo Nguyễn Văn Đ cho ủy ban nhân dân xã G, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 luật Thi hành án hình sự, trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì thực hiện theo Điều 93 luật Thi hành án hình sự.
* Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 322, điểm e khoản 2 Điều 32, khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 20.000.000 đồng để sung qũy nhà nước; căn cứ khoản 3 Điều 321, điểm e khoản 2 Điều 32, khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 10.000.000 đồng để sung qũy nhà nước.
* Vật chứng vụ án: Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
- + Tịch thu, tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ, 02 chiếc chiếu đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê và CQCSĐT Công an huyện H.
- + Tịch thu số tiền 5.320.000 đồng sử dụng vào hành vi phạm tội để sung quỹ nhà nước theo giấy ủy nhiệm chi ngày 30/7/2024 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê.
* Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/9/2024); Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Võ Huy N, anh Phan Thanh T, anh Vũ Đình T1, anh Hồ Bá Q, anh Hồ Sỹ Đ1, anh Hoàng Lê L3, anh Trần Tùng N1, anh Kiều Viết H3 và chị Trần Thị Thu H1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Khánh |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự sơ thẩm về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
