Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 29/2025/HSST

Ngày 04/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Trường;
  2. Ông Nguyễn Công Hiến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Diện - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu L- Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: Số D L, thành phố Đ), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST- HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Văn N; Sinh ngày: 26/6/1978, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trần Tiến D, sinh năm: 1938, già yếu và con bà: Võ Thị N1, sinh năm: 1942, già yếu. Hiện cùng trú tại: Khu phố A, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con: Có 02 con (lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2008); Tiền sự, tiền án: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ từ ngày 24/11/2024, đến ngày 17/01/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay.

Bị hại: Công ty TNHH D1; địa chỉ trụ sở chính: Khu Công nghiệp N, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quang A, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ F, phường T, quận H, thành phố Hà Nội - Giám đốc Công ty. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đặng Bá L1, sinh năm 1993; trú tại: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Có mặt tại phiên tòa.

- Ông Võ P, sinh năm 1981; trú tại: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Phan Hồng T, sinh năm 1992; trú tại: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Trần Ngọc Đ, sinh năm 1985; trú tại: Khóm F, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Hồ Ngọc V, sinh năm 1977; trú tại: Khóm H, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Phạm Tuấn S, sinh năm 1984; trú tại: Khóm C, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Đào Văn T1, sinh năm 1985; trú tại: Khóm G, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Lê Quang T2, sinh năm 1990; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978; trú tại: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

(1) Vào ngày 16/4/2024, Trần Văn N nộp hồ sơ xin việc tại Công ty TNHH D1 (gọi tắt là Công ty) có địa chỉ: Khu Công nghiệp N, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, trong thời gian Công ty TNHH D1 đang xem xét để tuyển dụng đối với N nên chưa ký hợp đồng lao động với N, do thiếu hụt nhân công nên khi có cửa hàng liên hệ để mua ga từ Công ty TNHH D1, Công ty thuê bị cáo lái xe chạy theo chuyến, chở bình ga giao cho các cửa hàng và thu tiền hộ từ các cửa hàng về nộp lại cho Công ty.

Trong thời gian từ ngày 16/4/2024 đến 26/6/2024, Công ty TNHH D1 thuê N chở bình ga đi giao cho khách và thu tiền hộ cho Công ty tại 07 cửa hàng ở huyện H, tỉnh Quảng Trị và 02 cửa hàng ở huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, cụ thể như sau:

Ngày 27/5/2024, Công ty TNHH D1 liên hệ thuê N đi chở và giao bình ga cho cửa hàng G (địa chỉ: xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị) và thu hộ số tiền 1.020.000 đồng (Một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng). Sau khi nhận được tiền, N nảy sinh ý định và chiếm đoạt số tiền này nên đã báo Công ty là cửa hàng còn nợ tiền.

Ngày 11/6/2024, Công ty TNHH D1 liên hệ thuê N đi chở và giao bình ga cho cửa hàng G1 (địa chỉ: thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị) và thu hộ số tiền 2.925.000 đồng (Hai triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn). Sau khi nhận được tiền, N nảy sinh ý định và chiếm đoạt số tiền này nên đã báo Công ty là cửa hàng còn nợ tiền.

Ngày 12/6/2024, Công ty TNHH D1 liên hệ thuê N đi chở và giao bình ga cho cửa hàng G2 (địa chỉ: thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị) và thu hộ số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng). Sau khi nhận được tiền, N nảy sinh ý định và chiếm đoạt số tiền này nên đã báo Công ty là cửa hàng còn nợ tiền.

Ngày 15/6/2024, Công ty TNHH D1 liên hệ thuê N đi chở và giao bình ga cho cửa hàng G3 (địa chỉ: xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) và thu hộ số tiền 5.380.000 đồng (Năm triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng). Sau khi nhận được tiền, N nảy sinh ý định và chiếm đoạt số tiền này nên đã báo Công ty là cửa hàng còn nợ tiền.

Ngày 22/6/2024, Công ty TNHH D1 liên hệ thuê N đi chở và giao bình ga cho cửa hàng G4 (địa chỉ: thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị) và thu hộ số tiền 1.740.000 đồng (Một triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng). Sau khi nhận được tiền, N nảy sinh ý định và chiếm đoạt số tiền này nên đã báo Công ty là cửa hàng còn nợ tiền.

Ngày 22/6/2024, Công ty TNHH D1 liên hệ thuê N đi chở và giao bình ga cho cửa hàng G5 (địa chỉ: xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) và thu hộ số tiền tiền 990.000 đồng (Chín trăm chín mươi nghìn đồng). Sau khi nhận được tiền, N nảy sinh ý định và chiếm đoạt số tiền này nên đã báo Công ty là cửa hàng còn nợ tiền.

Ngày 24/6/2024, Công ty TNHH D1 liên hệ thuê N đi chở và giao bình ga cho cửa hàng G6 (địa chỉ: Xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị) và thu hộ số tiền tiền 680.000 đồng (Sáu trăm tám mươi nghìn đồng). Sau khi nhận được tiền, N nảy sinh ý định và chiếm đoạt số tiền này nên đã báo Công ty là cửa hàng còn nợ tiền.

Ngày 24/6/2024, Công ty TNHH D1 liên hệ thuê N đi chở và giao bình ga cho cửa hàng G7 (địa chỉ: thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị) và thu hộ số tiền tiền 340.000 đồng (Ba trăm bốn mươi nghìn đồng). Sau khi nhận được tiền, N nảy sinh ý định và chiếm đoạt số tiền này nên đã báo Công ty là cửa hàng còn nợ tiền.

Ngày 26/6/2024, Công ty TNHH D1 liên hệ thuê N đi chở và giao bình ga cho cửa hàng ga L1 (địa chỉ: xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị) và thu hộ số tiền tiền 2.050.000 đồng (Hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi nhận được tiền, N nảy sinh ý định và chiếm đoạt số tiền này nên đã báo Công ty là cửa hàng còn nợ tiền.

Đến ngày 27/6/2024, Công ty phát hiện N đã thu tiền từ các cửa hàng nhưng không nộp lại cho Công ty nên đã nhiều lần liên lạc với Trần Văn N để yêu cầu trả lại số tiền trên, tuy nhiên N vẫn không trả lại số tiền trên cho Công ty. Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

(2) Truy tố: Cáo trạng số: 23/CT-VKS-ĐH ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

(3) Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"

(3.1) Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/3/2025.

(3.2) Về trách nhiệm dân sự.

- Chị Nguyễn Thị H (vợ bị cáo) đã bồi thường số tiền 16.025.000 đồng cho Công ty TNHH D1, Công ty không yêu cầu gì thêm về dân sự, Chị H không yêu cầu N phải trả lại số tiền 16.025.000 đồng nên không xem xét.

- Đối với 09 cửa hàng đã mua ga của Công ty, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu về dân sự nên không xem xét.

(3.3) Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[I] Hoạt động tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, thấy: Các hoạt động về điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[II] Về trách nhiệm hình sự:

(1) Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản mà bị cáo đã thực hiện như nội dung Bản cáo trạng số: 23/CT-VKS-ĐH ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo. Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, nên có đủ cơ sở để khẳng định:

Trong thời gian vào các ngày 27/5/2024, 11/6/2024, 12/6/2024, 15/6/2024, 18/6/2024, 22/6/2024, 25/6/2024 và 26/6/2024, Trần Văn N được Công ty TNHH D1 thuê đi giao ga và thu tiền hàng của 07 cửa hàng ở huyện H, tỉnh Quảng Trị và 02 cửa hàng ở huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế với tổng số tiền 16.025.000 đồng. Sau khi thu được tiền từ các cửa hàng trên, lợi dụng sơ hở trong trong việc quản lý hàng hóa của Công ty TNHH D1, N đã báo cáo gian dối về Công ty là 09 cửa hàng trên còn nợ tiền hàng của Công ty và N đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền 16.025.000 đồng.

Hành vi của Trần Văn N không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an địa phương. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

(2) Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH D1; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố bị cáo là ông Trần Tiến D và bà Võ Thị N1 được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3 chống Mỹ cứu nước nên phải áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.

Từ những phân tích trên thấy rằng: Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răng đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 13/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 23/01/2025, Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 05/2025/QĐ-TA ngày 23/01/2025 đối với bị cáo Trần Văn N.

-

[III] Về trách nhiệm dân sự:

- Chị Nguyễn Thị H (Vợ bị cáo Trần Văn N) đã bồi thường số tiền là 16.025.000 đồng cho Công ty TNHH D1, đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Quang A đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm. Chị H không yêu cầu bị cáo N trả lại số tiền 16.025.000 đồng, nên không xem xét.

- Đối với 09 cửa hàng đã mua ga của Công ty là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[IV] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn N, phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt:

Trần Văn N 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04 tháng 3 năm 2025).

Giao bị cáo Trần Văn N cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sựTrong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về biện pháp ngăn chăn: Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 13/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 23/01/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 05/2025/QĐ-TA ngày 23/01/2025 của Tòa án thành phố Đ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Trần Văn N chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND TP. Đông Hà;
  • - Công an TP. Đông Hà;
  • - Chi cục THADS TP. Đông Hà;
  • - THA hình sự;
  • - Bị cáo, bị hại, NCQLNVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HSST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 29/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Văn N 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04 tháng 3 năm 2025). Giao bị cáo Trần Văn Nghĩa cho Ủy ban nhân dân thị trấn Hồ Xá, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger