|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/DS-PT Ngày 29 - 8 - 2024 V/v tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Huy Lưỡng;
Các Thẩm phán: ông Tạ Văn Vinh và ông Phạm Thanh Tùng.
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Minh Hồng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Thanh Mơ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc “tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 10/2024/QĐPT-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 13/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Quách Thị T, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ B, ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Bị đơn: ông Phạm Văn V, sinh năm 1974; địa chỉ: bản T, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Người làm chứng: ông Nguyễn Cao C, sinh năm 1960; địa chỉ: thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Người kháng cáo: bị đơn là ông Phạm Văn V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn S (tên gọi khác Phạm Văn X).
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phạm Văn V: ông Trương Đình T1, Luật sư Công ty L1; địa chỉ: số D, đường Đ, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
Chị Phạm Thị Chúc Q, sinh năm 1993; địa chỉ: tổ B, ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của chị Phạm Thị Chúc Q: bà Quách Thị T, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ B, ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai (theo văn bản ủy quyền số công chứng 00978/2024 ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Văn phòng C3). (có mặt)
Anh Phạm Việt Tùng L, sinh năm 2002; địa chỉ: tổ B, ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của anh Phạm Việt Tùng L: Quách Thị T, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ B, ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai (theo văn bản ủy quyền số công chứng 00969/2024 ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Văn phòng C3). (có mặt)
Bà Lại Thị D sinh năm 1979; địa chỉ: Bản T, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
Ông Phạm Văn S (tên gọi khác Phạm Văn X), sinh năm 1969; địa chỉ: thôn 1, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phạm Văn S: ông Trương Đình T1, Luật sư Công ty L1; địa chỉ: số D, đường Đ, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Quách Thị T trình bày yêu cầu khởi kiện:
Bà Quách Thị T và ông Phạm Văn S1 là vợ chồng. Từ năm 1986 đến năm 1996, ông S1 là công nhân tại đội 16 Nông trường Đ, hiện tại đã sát nhập vào Công ty cổ phần T5 (sau đây viết tắt là Nông trường), sau đó được điều vào đội 5 T. Ông S1 và bà T được Nông trường giao diện tích 3.000 m² đất để sản xuất nông nghiệp và đóng sản phẩm hàng năm cho Nông trường và tạo điều kiện để vợ chồng ông S1, bà T có đất làm nhà. Ông S1 và bà T đã làm căn nhà 2 gian để ở từ năm 1991 đến năm 1996. Sau đó, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn vợ chồng ông S1 và bà T đã đi làm ăn xa và cho ông Phạm Văn V (là em trai ông S1) mượn. Năm 1997, Nông trường có làm các thủ tục cấp bìa đỏ cho công nhân thì gia đình ông S1 và bà T cũng thuộc diện được cấp bìa đỏ. Tuy nhiên, ông S1 và bà T làm ăn ở xa, ông V không báo vợ chồng ông S1 và bà T về việc ông S1 được cấp bìa đỏ mà tự ý đi lấy bìa đỏ về và cất giữ. Tháng 4/2022, ông V có điện thoại cho bà T về để làm thủ tục sang tên thửa đất trên cho ông V với lý do là mẹ chồng bà T là cụ Phạm Thị
T2 đã sang nhượng diện tích đất trên cho ông V. Bà T không đồng ý nên đã đề nghị Ủy ban nhân dân xã K hoà giải nhưng không thành. Hiện nay, ông V cố tình giữ bìa đỏ và canh tác trên thửa đất của nhà bà T. Vì vậy, bà T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết với các yêu cầu: Hủy giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao nhận tiền thanh toán ngày 10/12/2016 giữa bà Phạm Thị T2 và ông Phạm Văn V, bà Lại Thị D. Buộc ông Phạm Văn V phải trả lại cho bà T Giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên chồng bà T là ông Phạm Văn S1 do UBND huyện N cấp ngày 27/01/1997. Buộc ông Phạm Văn V, bà Lại Thị D phải trả lại cho bà T và 02 con của bà T là Phạm Thị Trúc Q1, Phạm Việt Tùng L diện tích là 1.620m² (trong đó 150m² đất ở và 1.470m² đất vườn lâu dài) tại thửa số 4 tờ bản đồ số 5b, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình được UBND huyện N cấp ngày 27/01/1997 mang tên chồng bà T là ông Phạm Văn S1
Bị đơn là ông Phạm Văn V trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Quách Thị T:
Gia đình ông V có công khai phá khu chuồng bò ông C1 tại đội 16, Nông trường Đ (nay là bản T, xã K, huyện N), gia đình ông V có nuôi khoán bò cho Nông trường Đ II trên khu đất đó. Năm 1991 khi ông S1 cưới bà T thì gia đình đã thống nhất để lại khu đất trên cho ông S1 canh tác. Tại thời điểm đó, trên khu đất có 01 căn nhà tranh vách đất do 4 anh em trong gia đình xây dựng nên. Năm 1996, ông S1 được Nông trường Đ II cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tháng 10 năm 1996 do nợ nần nhiều nên ông S1 đã viết giấy sang nhượng lại mảnh đất trên và đất thầu cho mẹ đẻ là cụ Phạm Thị T2 để cùng vợ con vào miền N làm ăn sinh sống. Cụ T2 đã đưa cho ông S1 3 chỉ vàng 9999 để lấy đất có sự chứng kiến của các em và bố đẻ ông V là cụ Phạm Văn T3. Ngày 14/10/1996, cụ T2 đưa Giấy sang nhượng thầu đất của ông S1 cho ông Nguyễn Cao C lúc đó là đội trưởng đội 16 để xác nhận việc chuyển nhượng. Tuy nhiên, ông T4 có nói với cụ T2 là ông S1 còn nợ Nông trường các khoản như tiền vật tư, lãi, tiền ứng đầu tư mía, tiền thuế đất năm 1996 nên không thực hiện việc chuyển nhượng đất, bao giờ thực hiện xong các khoản nợ trên thì đồng ý cho chuyển nhượng. Ngày 19/10/1996, đội Yên N giao đất và mía của ông S1 cho bố mẹ ông V canh tác sử dụng và yêu cầu bố mẹ ông V phải thanh toán số nợ cho đội và Nông trường. Khoảng cuối năm 1996, đầu năm 1997 bố mẹ ông V đã gặp ông C để thanh toán các khoản nợ của ông S1, Nông trường có giao cho mẹ ông biên lai ghi lại các khoản nợ đã thanh toán. Tháng 6/1997, bố ông V (là cụ T3) chết, ông S1 về chịu tang và hỏi tiền thu hoạch mía trước đây, cụ T2 nói mía đó xấu cây nhỏ thu hoạch về không đủ trả nợ cho Nông trường và bàn giao lại biên lai cho ông S1 xem, ông S1 không có ý kiến gì. Mẹ ông V có nói với ông S1 cầm giấy về đưa cho bà T vợ ông S1 xem, bà T cất giữ
chứ gia đình ông V không cầm đồng nào của ông S1. Năm 1998, ông V lấy vợ, cụ T2 đã cho ông V mượn lại mảnh đất mà gia đình ông S1 đã nhượng lại cho cụ T2 ở khu chuồng Bò ông C1 để lấy vốn làm ăn sinh sống. Từ năm 1998 gia đình ông S1 đã vào đó canh tác và không xẩy ra tranh chấp gì. Vợ chồng ông S1, bà T cũng không có ý kiến gì về việc này. Năm 2004, vợ chồng ông V được bà Hoa C2 thông báo là nhà ông S1 còn nợ số tiền 875.000 đồng + lãi 3%/tháng, thời hạn trả đến 30/12/1997 và bà H đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu vợ chồng ông V không trả thì bà H sẽ giữ lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đưa ra hai phương án: phương án 1: bà H sẽ thanh lý thửa đất trên, phương án 2: Bà H sẽ sang tên bìa đỏ cho người khác. Vợ chồng ông V đã thống nhất trả số tiền 1.000.000 đồng cho bà H, bà H có xác nhận: Em V đã trả hộ anh S1 số tiền 1.000.000 đồng và trả lại Giấy chứng nhận cho ông V cầm về. Do không có nhu cầu sử dụng thửa đất trên cụ T2 đã sang nhượng cho vợ chồng ông V với giá 2.000.000 đồng vào năm 2016. Tháng 9/2022, ông V có nhu cầu sang tên bìa đỏ để làm thủ tục vay vốn Nhà nước nên đã gọi bà T về để nhờ bà T ký giấy làm thủ tục sang tên, bà T có nói rằng trước khi mất ông S1 có nói nhượng lại thửa đất trên ông V và yêu cầu ông V nhượng lại phần thừa kế đất cụ T2 và ông S - anh trai ông V cho hai con của bà T và ông S1 là cháu L và cháu Q1. Ông V đã nói với bà T là ông S1 không có quyền quyết định đối với đất của cụ T2 và ông S. Tháng 10/2022, bà T có lên nhà ông V yêu cầu chia đôi thửa đất mà cụ T2 đã cho ông V, trong đó ông V 1 nửa và các con ông S1 bà T 1 nửa. Ông không đồng ý và bà T đã không đồng ý ký thủ tục sang tên cho vợ chồng ông V. Nay bà T khởi kiện ông V trả lại đất ông V không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Trúc Q1 và anh Phạm Việt Tùng L trình bày:
Anh L và chị Q1 là con của bà Quách Thị T, sinh năm 1973 và ông Phạm Văn S1 sinh năm 1968 đã chết năm 2012. Thửa đất số 4 tờ bản đồ số 5b diện tích 1.620m² (trong đó 150m² đất ở và 1.470m² đất vườn lâu dài tại bản T, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình đã được cấp Giấy chứng nhận mang tên ông Phạm Văn S1. Anh L và chị Q1 khẳng định về nguồn gốc cũng như quyền sử dụng của ông S1 và bà T. Hiện nay ông S1 đã chết, ông V là em ruột của ông S1 có hành vi chiếm đoạt trái phép là sai. Khi còn sống ông S1 vẫn nói với anh L và chị Q2 chỉ cho ông V mượn để canh tác, việc mua bán là không có. Nay anh L và chị Q1 đồng quan điểm với bà T và đề nghị Tòa án giải quyết: Hủy giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao nhận tiền thanh toán ngày 10/12/2016 giữa bà Phạm Thị T2 và ông Phạm Văn V, bà Lại Thị D. Buộc ông Phạm Văn V phải trả lại bìa đỏ mang tên
Phạm Văn S1 do UBND huyện N cấp ngày 27/01/1997 cho gia đình anh, chị tại thửa số 4 tờ bản đồ số 5b, diện tích là 1.620m² (trong đó 150m² đất ở và 1.470m² đất vườn lâu dài) tại bản T, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Buộc ông V phải thu hoạch hết hoa mầu đã trồng cấy trên diện tích đất trên để trả lại cho gia đình anh, chị.
Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn S trình bày:
Năm 1969, gia đình ông S gồm có bố mẹ và bốn anh em trai vào khai phá khu chuồng bò, ở xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình nay là khu vực đất bà Quách Thị T tranh chấp. Năm 1995, Nông trường Đ II vào đo đạc, xác nhận và chính thức giao đất cho anh em ông S, đứng tên ông Phạm Văn S1. Do anh em ông S giao cho ông S1 đứng ra ký nhận đất với Nông trường. Vào tháng 10/1996, ông S1 nhượng bán đất này cho các em. Sau đó, ông S1 cùng vợ là bà Quách Thị T đi vào N làm ăn sinh sống. Do ông S1 đã nhượng bán đất nên không còn đứng tên thửa đất mà chuyển sang cho ông S đứng tên. Đến năm 1997, trên bản đồ địa chính do Nông trường Đồng Giao II thửa đất đứng tên ông S (Phạm Văn X). Từ khi ông S1 nhượng đất, ông S và các em sử dụng ổn định. Do sức khỏe yếu nên ông S đã giao lại thửa đất cho em trai là ông Phạm Văn V, ông V canh tác từ đó và đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước. Năm 1997, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Nông trường Đ II căn cứ vào giấy đo đạc năm 1994 mà không căn cứ vào bản đồ địa chính và thực tế nên Nông trường đã kê khai và đề nghị UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Phạm Văn S1.
Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án người làm chứng ông Nguyễn Cao C trình bày:
Năm 1996 ông là đội trưởng đội 16 của Nông trường Đ, thời điểm đó ông S1 là công nhân của nông trường. Vì vậy các khoản tiền nợ vật tư, thuế đất thầu, là nghĩa vụ của ông S1 với Nông trường, việc ông C xác nhận vào giấy là xác nhận nợ, chứ ông C không có thẩm quyền trong việc xác nhận đất thổ cư, Nông trường chỉ quản lý về đất thầu khoán. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công nhân, công nhân hưu trí và con em thì thủ tục do Nông trường đề nghị, thẩm quyền cấp là do Ủy ban nhân dân các cấp với điều kiện là công nhân phải hoàn thành tất cả các nghĩa vụ với Nông trường.
Tại Biên bản làm việc ngày 20/10/2023 quan điểm của UBND xã K, huyện N:
Về nguồn gốc thửa đất số 4 tờ bản đồ số 5b: trước đây thuộc quyền quản lý của Nông trường Đ, nay là Công ty Cổ phần T5, đất giao cho công nhân canh tác và sinh sống. Sau này việc làm thủ tục hành chính cấp Giấy chứng nhận cho cá nhân và hộ gia đình là Công ty và UBND huyện N. Hiện nay hồ sơ địa chính có liên
quan đến thửa đất như sổ mục kê, bản đồ địa chính thì tại UBND xã K không có. Về ranh giới địa chính thì thửa đất trên thuộc địa phận bản Tân Phú, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Hiện nay ông Phạm Văn V em trai ông S1 đang canh tác và quản lý thửa đất, Ủy ban nhân dân xã K chưa làm bất cứ thủ tục nào có liên quan đến thửa đất như: Chuyển nhượng, tặng cho hay thừa kế.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 05/02/2024, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã Quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Quách Thị T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn ông Phạm Văn V.
Buộc ông Phạm Văn V trả lại diện tích đất 1.620m², trong đó có 150m² đất ở và 1.470m² đất vườn tại thửa số 4, tờ bản đồ 5b, địa chỉ thửa đất xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Đất được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 664626 ngày 27/01/1997 mang tên ông Phạm Văn S1 cho cho bà Quách Thị T, cháu Phạm Thị Chúc Q và Phạm Việt Tùng L (đất có tứ cận như sơ họa kèm theo biên bản thẩm định ngày 25/9/2023). Buộc ông Phạm Văn V và bà Lại Thị D phải thu hoạch toàn bộ cấy cối, hoa màu (cây dứa) trên diện tích đất 1.620m², trong đó có 150m² đất ở và 1.470m² đất vườn tại thửa đất số 4, tờ bản đồ 5b; địa chỉ thửa đất xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình, không được tiếp tục trồng mới và xây dựng công trình trên diện tích đất trên.
Buộc ông Phạm Văn V phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 664626 cấp ngày 27/01/1997 mang tên ông Phạm Văn S1 cho bà Quách Thị T, cháu Phạm Thị Chúc Q và Phạm Việt Tùng L.
Hủy giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao nhận tiền thanh toán ngày 10/12/2016 giữa bà Phạm Thị T2 và ông Phạm Văn V, bà Lại Thị D.
Đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng theo quy định của pháp luật. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với quyết định của bản án đã tuyên.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí, quyền kháng cáo và quyền thỏa thuận thi hành án cho các đương sự.
Ngày 05/3/2024 tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình kháng nghị Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình theo thủ tục phúc thẩm. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm, chuyển vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
Ngày 22/2/2024, ông Phạm Văn V, ông Phạm Văn S kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm 03/2024/DS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan để xét xử lại theo quy định của pháp luật. Đề nghị vận dụng án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 và án lệ số 33/2016/AL ngày 25/02/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết vụ án nhằm đảm bảo quyền lợi cho ông Phạm Văn V, Phạm Văn X (S).
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình; ông Phạm Văn V, ông Phạm Văn S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn bà Quách Thị T cũng là người đại diện hợp pháp của, chị Phạm Thị Chúc Q, anh Phạm Việt Tùng L đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm 03/2024/DS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm cũng như tại phiên toà phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung:
sau khi phân tích các tình tiết của vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310, khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quyết định: Chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, kháng cáo của ông V, ông S.
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Phạm Văn V, ông Phạm Văn S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông Phạm Văn V số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, đơn kháng cáo của ông Phạm Văn V, Phạm Văn S (X) được làm trong thời hạn pháp luật quy định và đúng hình thức, nội dung theo quy định tại các Điều 272, 273, 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Quách Thị T về tranh chấp về đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai là đúng thẩm quyền quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã triệu tập hợp lệ những người tham gia tố tụng lần thứ hai những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có người đại diện hợp pháp, nhân chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm, xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Ủy ban nhân dân huyện N đã cung cấp một số tài liệu đã xác định được thửa đất có diện tích 1.620m² (trong đó có 150m² đất ở và 1.470m² đất vườn) tại thửa đất số 4 tờ bản đồ số 5b tại xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 664626 ngày 27/01/2997 mang tên ông Phạm Văn S1 có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng của Nông trường Đ II. Năm 1996, Nông trường Đ II đã làm thủ tục đề nghị Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công nhân của Nông trường Đồng Giao II trong danh sách đề nghị có ông Phạm Văn S1. Năm 1997, Ủy ban nhân dân huyện N đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 664626 ngày 27/01/2997 mang tên ông Phạm Văn S1. Theo Giấy chứng tử số 25/2013 tại quyển số 01/2013 của UBND xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì ông Phạm Văn S1 đã chết. Do đó, cần phải thu thập các tài liệu chứng cứ để xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Phạm Văn S1 vào thời điểm ông S1 chết mới giải quyết vụ án được chính xác, đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
[2.2] Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/4/2023, nguyên đơn bà Quách Thị T đề nghị với 04 nội dung cụ thể: (1) Hủy giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao nhận tiền thanh toán ngày 10/12/2016 giữa bà Phạm Thị T2 và ông Phạm Văn V, bà Lại Thị D. (2) Buộc ông Phạm Văn V phải trả lại cho bà T Giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên chồng bà T là ông Phạm Văn S1 do UBND huyện N cấp ngày 27/01/1997. (3) Buộc ông Phạm Văn V, bà Lại Thị D phải trả lại cho bà T và 02 con của bà T là Phạm Thị Trúc Q1, Phạm Việt Tùng L diện tích là
1.620m² (trong đó 150m² đất ở và 1.470m² đất vườn lâu dài) tại thửa số 4 tờ bản đồ số 5b, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình được UBND huyện N cấp ngày 27/01/1997 mang tên chồng bà T là ông Phạm Văn S1. (4)Buộc ông V phải thu hoạch hết hoa mầu đã trồng cấy trên diện tích đất trên.
[2.2] Với yêu cầu tại nội dung (3) của đơn khởi kiện: Buộc ông Phạm Văn V, bà Lại Thị D phải trả lại cho bà T và 02 con của bà T là Phạm Thị Trúc Q1, Phạm Việt Tùng L diện tích là 1.620m², Toà án nhân dân huyện Nho Quan đã xác định bà Lại Thị D là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là chưa chính xác. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[2.3] Với yêu cầu tại nội dung (1) của đơn khởi kiện nội dung Giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao nhận tiền thanh toán ngày 10/12/2016 giữa bà Phạm Thị T2 và ông Phạm Văn V, bà Lại Thị D bản chất là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hợp đồng này được xác lập vào thời điểm Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực nên theo quy định tại Điều 425 Bộ luật Dân sự 2005 thì bà T không phải là một bên giao dịch trong hợp đồng nên không có quyền yêu cầu huỷ bỏ. Tuy nhiên, bà T có quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa số 4 tờ bản đồ số 5b, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình được UBND huyện N cấp ngày 27/01/1997 mang tên chồng bà T là ông Phạm Văn S1 vô hiệu.
Nếu đương sự có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được Toà án thụ lý thì Tòa án phải hỏi ý kiến và giải thích cho các đương sự về việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005.
[2.4] Do phát sinh tình tiết mới tại cấp phúc thẩm, có thể làm thay đổi bản chất vụ án nên cần phải huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
[2.5] Nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, kháng cáo của ông Phạm Văn V, ông Phạm Văn S (X) sẽ được xem xét giải quyết trong quá trình xét xử sơ thẩm lại vụ án.
[2.6] Các khoản tiền tạm ứng án phí, nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xem xét, quyết định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm cho người kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310, khoản 3 Điều 148 Bộ luật
Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: ông Phạm Văn V, ông Phạm Văn S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông Phạm Văn V số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001168 ngày 26/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Hoàn trả lại cho ông Phạm Văn S (X) số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001169 ngày 26/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án .
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Huy Lưỡng |
Bản án số 23/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai
- Số bản án: 23/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết với các yêu cầu: Hủy giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao nhận tiền thanh toán ngày 10/12/2016 giữa bà Phạm Thị T2 và ông Phạm Văn V, bà Lại Thị D. Buộc ông Phạm Văn V phải trả lại cho bà T Giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên chồng bà T là ông Phạm Văn S1 do UBND huyện N cấp ngày 27/01/1997. Buộc ông Phạm Văn V, bà Lại Thị D phải trả lại cho bà T và 02 con của bà T là Phạm Thị Trúc Q1, Phạm Việt Tùng L diện tích là 1.620m2 (trong đó 150m2 đất ở và 1.470m2 đất vườn lâu dài) tại thửa số 4 tờ bản đồ số 5b, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình được UBND huyện N cấp ngày 27/01/1997 mang tên chồng bà T là ông Phạm Văn S1
