|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 146/2024/HSST
Ngày: 26-11-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Trần Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tống Xuân Tú
- Bà Trần Thị Nơi
Thư ký phiên toà: bà Phạm Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 146/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Thị H, sinh năm 1979; nơi sinh: xã T, huyện H;
Nơi cư trú: tổ dân phố Â, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nữ; con ông Vũ Đức L và bà Trần Thị P; có chồng Nguyễn Văn B và 03 con; con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/8/2024, đến ngày 18/10/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp cho bảo lĩnh (có mặt).
Bị hại: bà Đinh Thị Hồng L1, sinh năm 1975 (có mặt).
Nơi thường trú: tổ dân phố Â, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1975 (có mặt).
- Ông Vũ Văn D, sinh năm 1964 (vắng mặt).
- Bà Phạm Thị T, sinh năm 1979 (vắng mặt).
- Bà Vũ Thị N, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Đều thường trú: tổ dân phố Â, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu năm 2018, chị Đinh Thị Hồng L1 vay của Vũ Thị H số tiền 160.000.000 đồng. Khi vay chị L1 và H thỏa thuận trực tiếp, không viết giấy vay nợ hay cầm cố tài sản gì. Đến năm 2021, H nhiều lần đòi tiền nhưng chị L1 không trả và khất nợ. Khoảng 20 giờ ngày 02/5/2021, H và con trai là Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2016 đến nhà ông Vũ Văn D bà Phạm Thị T đều ở tổ dân phố Â, thị trấn H, huyện H thì thấy có anh Trần Văn L2, chị Vũ Thị N, đều là người ở cùng tổ dân phố Â đang ngồi chơi tại bàn uống nước cùng với anh D, còn chị L1 đang ngồi tại chiếu trải dưới nền nhà cùng chị T, thấy vậy H vào ngồi đối diện chị L1 cách nhau khoảng 60 - 70cm và nói “Chị xem có tiền trả em một ít, em đi vay người ta cũng đòi em, em khổ lắm”, chị L1 nói “Sao tết không đến, bây giờ chưa có”. H nói “Tết em đến, chị hẹn không phải đến nữa, giờ chị lại nói vậy”, chị L1 nói “Bây giờ tao không có tiền, bao giờ có thì tao trả, mày làm đéo gì được tao”. Lúc này H nhìn thấy sợi dây chuyền chị L1 đeo trên cổ đã dùng tay phải nắm lấy sợi dây chuyền giật mạnh làm đứt sợi dây chuyền, H đứng dậy cầm sợi dây chuyền ở tay, chị L1 đứng lên nói "Mày lấy sợi dây chuyền của tao thì tao trừ hết nợ của mày, tao không trả nữa" và “Mày lấy sợi dây chuyền của tao là cướp giật tài sản đấy", H nói "Kể cả xe máy của chị, chị không trả tiền em, em cũng lấy, chị có bao nhiêu tiền trên người em cũng lấy", chị L1 đi ra ngoài, H đi theo sau đến hiên nhà anh D thì được chị T can nên chị L1 đi ra sân dắt xe máy đi về nhà trước. H cầm sợi dây chuyền trên về nhà để ở trong tủ gỗ tại phòng khách, đến khoảng 22 giờ cùng ngày Công an thị trấn H, huyện H đến triệu tập H lên trụ sở Công an thị trấn H để làm việc, H đã tự nguyện giao nộp lại sợi dây chuyền kim loại màu vàng trên.
Kết luận giám định số 3465/C09-P4 ngày 14/05/2021 của V, Bộ C kết luận: 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng được chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có gắn 01 (một) viên vật liệu màu vàng và 05 (năm) viên vật liệu không màu gửi giám định có tổng khối lượng 6,90 gam (tính cả các viên vật liệu) trong đó: Phần kim loại màu vàng đều là vàng (Au) trang sức, hàm lượng trung bình Au: 41,28 %; ngoài ra còn có đồng (Cu), bạc (Al) và kẽm (Z), hàm lượng trung bình Cu: 38,02%, Ag: 12,95%, Zn: 7,75%; 01 (một) viên vật liệu màu vàng là thủy tinh; 05 (năm) viên vật liệu không màu đều là đá CZ.
Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H số 23 ngày 26/5/2021, kết luận: 01 (một) dây chuyền vàng trang sức dạng các mắt xích nối với nhau, hàm lượng trung bình Au: 41,28%, ngoài ra còn có Cu: 38,02%, Ag: 12,95%, Zn: 7,75%, dây chuyền có treo một móc đính 01 (một) viên thủy tinh, 05 (năm) viên đá CZ. Có tổng khối lượng (tính cả đá) là: 6,89 gam. Tổng giá trị của dây chuyền có đặc điểm nêu trên tại thời điểm bị xâm hại thành tiền là 3.475.000 đồng.
Bản cáo trạng số 147/CT-VKSHH ngày 29-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự (viết tắt BLHS).
Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo H và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Cướp giật tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 65 của BLHS; xử phạt bị cáo H mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 6 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 3 năm, thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại chỉ xin lại dây truyền vàng tây không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường khoản tiền nào; ngày 21/10/2024 bị cáo H đã tự nguyện nộp 1.000.000 đồng vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà để khắc phục hậu quả hàn lại sợi dây chuyền bị đứt nhưng do bị hại không yêu cầu nên trả lại bị cáo số tiền trên.
Vật chứng của vụ án: 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng được chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có gắn 01 (một) viên vật liệu màu vàng và 05 (năm) viên vật liệu không màu. Vật chứng được niêm phong trong một phong bì của V Bộ C, trên phong bì có 03 dấu hình tròn màu đỏ của V Bộ C, chữ ký và ghi họ tên của ông Đinh Đức T1, bà Trần Thị Thu T2. Là tài sản của chị L1, cần trả lại cho chị L1.
Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo H không tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người làm chứng đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm (bút lục từ số 04); Đơn trình báo ngày 02/5/2021 của chị Đinh Thị Hồng L1 (bút lục số 05); Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu (bút lục từ số 66); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (bút lục từ số 67); Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường và bản ảnh vật chứng (bút lục từ số 57 đến số 64); Kết luận giám định số 3465/C09-P4 ngày 14/05/2021 của V, Bộ C (bút lục số 69); Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H (bút lục từ số 75); Lời khai của người bị hại là chị Đinh Thị Hồng L1 tại phiên toà; Lời khai của những người làm chứng: anh Nguyễn Văn B, ông Vũ Văn D sinh năm 1964, bà Phạm Thị T và chị Vũ Thị N (bút lục từ số 229 đến số B). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 02/05/2021, Vũ Thị H đến nhà ông Vũ Văn D, sinh năm 1964, trú tại tổ dân phố Â, thị trấn H, huyện H chơi thì gặp chị Đinh Thị Hồng L1, sinh năm 1975 ở tổ dân phố Â, thị trấn H, huyện H, H đòi chị L1 trả số tiền 160.000.000 đồng đã vay trước đó nhưng chị L1 không trả nên H dùng tay phải giật đứt sợi dây chuyền chị L1 đang đeo trên cổ mang về nhà mục đích để chị L1 trả nợ. Trị giá sợi dây chuyền vàng trang sức có giá trị 3.475.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Thị H đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 171. Tội cướp giật tài sản
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
......
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nơi địa phương xảy ra tội phạm. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo phạm tội một phần do lỗi của bị hại vay tiền của bị cáo chưa trả, hành vi bị cáo giật dây truyền mang tính chất bột phát. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo tự nguyện giao nộp dây truyền cho Công an điều tra trả lại bị hại ngay sau khi sự việc xảy ra để khắc phục hậu quả, tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt. Từ những nhận xét trên, Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần xử bị cáo mức hình phạt theo khung hình phạt nhưng cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên toà, chị Đinh Thị Hồng L1 chỉ xin lại sợi dây truyền, không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường khoản tiền nào để hàn lại dây truyền, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Vật chứng của vụ án: 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng được chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có gắn 01 (một) viên vật liệu màu vàng và 05 (năm) viên vật liệu không màu, đây là tài sản hợp pháp của chị L1, cần trả lại cho chị L1.
Ngày 21/10/2024, bị cáo H đã tự nguyện nộp 1.000.000 đồng vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà để khắc phục hàn lại sợi dây chuyền bị đứt, nhưng chị L1 không yêu cầu. Vì vậy cần trả lại bị cáo H số tiền 1.000.000 đồng theo biên lai ngày 21/10/2024.
[6] Quá trình điều tra chị Đinh Thị Hồng L1 khai số tiền 160.000.000 đồng bị cáo Vũ Thị H cho chị L1 vay tính lãi suất 4000 đồng/01 triệu/01 ngày. Ngoài lời khai của chị L1 ra không còn tài liệu nào khác chứng minh nên không đủ căn cứ xử lý Vũ Thị H về hành vi cho vay lãi nặng trong vụ án này.
[7] Bị cáo H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Thị H 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo H cho UBND thị trấn H, huyện H nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng của vụ án: trả lại chị L1 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng được chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có gắn 01 (một) viên vật liệu màu vàng và 05 (năm) viên vật liệu không màu.
Trả lại bị cáo H số tiền 1.000.000 đồng theo biên lai ngày 21/10/2024 (Vật chứng trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo H, chị L1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Nhàn |
Bản án số 146/2024/HSST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - cướp giật tài sản
- Số bản án: 146/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Thị H
