Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2024/HSST

Ngày: 22-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tống Xuân Tú - Bí thư đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Thái Hưng, huyện Hưng Hà.
  2. Bà Phạm Thị Huệ - Cán bộ hưu xã Hồng Lĩnh, huyện Hưng Hà.

- Thư ký phiên toà: ông Trần Trung Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Công T, sinh ngày 30/7/2006;

Khi phạm tội bị cáo 17 tuổi 11 tháng 12 ngày

Nơi sinh: xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Nơi thường trú: thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Công D và bà Vũ Thị V; vợ, con: chưa có ; tiền án: không; tiền sự: Ngày 14/7/2024 bị Chủ tịch UBND xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/7/2024; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thái Bình (có mặt).

2.Vũ Trung H, sinh ngày 23/3/2009;

Khi phạm tội bị cáo 15 tuổi 3 tháng 19 ngày

Nơi sinh: xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Nơi thường trú: tại thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Vũ Trung C và bà Nguyễn Thị K; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/7/2024; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo H: ông Vũ Trung C, sinh năm 1961 (là bố đẻ bị cáo H – có mặt).

Nơi thường trú: thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

3. Đoàn Ngọc K1, sinh ngày 23/11/2008

Khi phạm tội bị cáo 15 tuổi 7 tháng 19 ngày

Nơi sinh: xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

Nơi thường trú: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Đoàn Vũ N và bà Phạm Thị T1; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: Ngày 10/5/2024 bị Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 15/7/2024 bị Chủ tịch UBND xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Thái Bình tạm giữ từ ngày 20/7/2024 đến ngày 29/7/2024 chuyển tạm giam về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo K1: ông Đoàn Vũ N, sinh năm 1981 (là bố đẻ bị cáo K1 – có mặt).

Nơi thường trú: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Công T, Vũ Trung H và Đoàn Ngọc K1: bà Trần Thị L - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh T ( có mặt).

Bị hại: chị Nguyễn Thu H1, sinh ngày 10/01/2009.

Người đại diện hợp pháp cho chị H1: bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1971 (là mẹ đẻ chị H1), (chị H1, bà V1 có đơn xin xử vắng mặt)

Đều thường trú: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H1: bà Trần Thị Hà P - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh T (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

Anh Đặng Văn K2, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Người làm chứng: chị Nguyễn Thị Hương L1, sinh năm 2000 (vắng mặt).

Nơi thường trú: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đoàn Ngọc K1, Nguyễn Công T và Vũ Trung H là người không có nghề nghiệp, bỏ học, thường xuyên tụ tập bỏ nhà sống lang thang. Khoảng đầu tháng 7/2024, K1, T và H rủ nhau bỏ nhà đi chơi lang thang, sau đó K1 lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển số đăng ký 17B5 – 53186 (K1 tự ý lấy xe của bố đẻ là ông Đoàn Vũ N) chở T và H đi. Do không có tiền ăn uống và thuê nhà nghỉ nên K1, T và H đã bàn bạc thống nhất với nhau, trên đường đi nếu thấy học sinh và phụ nữ thì sẽ cướp tiền và điện thoại bán lấy tiền chi tiêu. Khoảng 21 giờ ngày 12/7/2024, T điều khiển xe mô tô chở H, K1 đi từ thành phố T theo đường Quốc lộ 10 đến ngã tư Đ thì rẽ về đường Quốc lộ 39 hướng về huyện H để về huyện Q. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến địa phận thôn Đ, xã H, huyện H, T nhìn thấy chị Nguyễn Thị Hương L1 và chị Nguyễn Thu H1 đều cư trú tại thôn Đ, xã H, huyện H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 17B4 – 031.19 đi ngược chiều, T bảo với H và K1 "quay lại vợt hai con bé kia không?", H, K1 bảo "ok". Sau đó H bảo T dừng xe lại rồi mở cốp xe lấy 01 con dao thái cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 30cm, bản rộng khoảng 05cm rồi T điều khiển xe chở H và K1 đuổi theo xe của chị L1, chị L1 thấy vậy đã quay xe lại chạy về hướng thị trấn H thì T tiếp tục quay xe lại đuổi theo và áp sát bên trái xe của chị L1 và chị H1. Lúc này H tay phải cầm con dao giơ lên hướng về phía của chị H1, chị L1 và bảo "dừng xe lại, đưa điện thoại đây", chị L1 sợ nên dừng xe lại còn chị H1 lấy chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu đỏ đưa cho chị L1, chị L1 cầm điện thoại đưa cho H, H hỏi mật khẩu màn hình thì chị L1, chị H1 sợ và khóc to. Thấy vậy K1 nói “thôi chạy đi”, T điều khiển xe bỏ chạy về hướng thị trấn H. Trên đường đi H đã ném con dao xuống ruộng ở bên đường. Khi đến khu vực ngã 7 đèn xanh, đèn đỏ, T rẽ phải đi về hướng đường C rồi đi về huyện Q. Sau đó T, H và K1 vào quán G ở xã Q, huyện Q ngồi chơi được khoảng 15 phút thì H rủ T, K1 lên thành phố T chơi. Khi đến thành phố T, do không có tiền nên H, K1 và T đi vào bệnh viện đa khoa tỉnh T gửi xe rồi đi ra ghế đá nằm ngủ. Sáng ngày 13/7/2024, H, K1 và T chở nhau đi đến quán sửa chữa và mua bán điện thoại của anh Đặng Văn K2 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Khi đến T đứng bên

ngoài còn H và K1 mang điện thoại vào bán. H nói với anh K2 "em muốn bán điện thoại này" rồi đưa điện thoại cho anh K2 xem, anh K2 hỏi "điện thoại ở đâu", H nói "điện thoại này là của khách trước cầm ở quán của anh em nhưng giờ không lấy nữa, giờ bán thanh lý nốt", anh K2 nói "điện thoại này anh chỉ thu được năm trăm nghìn thôi", H nói "điện thoại trước anh em thu đã sáu trăm nghìn rồi, anh mua lại giúp em". Anh K2 cầm điện thoại nhưng không kiểm tra cũng không bật lên để xem tình trang máy rồi quán đồng ý đưa cho H 600.000 đồng (01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng). Số tiền trên H, K1 và T cùng sử dụng chi tiêu hết.

Bản kết luận định giá tài sản số 40/KLGĐ, ngày 22/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu đỏ đã qua sử dụng tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là: 2.500.000 đồng.

Bản cáo trạng số 142/CT-VKSHH ngày 16-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố các bị cáo Nguyễn Công T, Vũ Trung H và Đoàn Ngọc K1 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, các bị cáo T, H và K1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo T, H và K1 và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công T, Vũ Trung H và Đoàn Ngọc K1 phạm tội “Cướp tài sản”;

Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 và Điều 38 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Công T từ 04 năm 06 tháng đến 04 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 23/7/2024.

Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 và Điều 38 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Trung H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 23/7/2024.

Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 và Điều 38 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc K1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm sự dân sự: chị Nguyễn Thu H1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu các bị cáo T, H và K1 phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác về dân sự; anh Đặng Văn K2 không yêu cầu các bị cáo T, H và K1 phải bồi thường số tiền anh đã mua chiếc điện thoại là 600.000 đồng.

Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo H và K1 không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho các bị cáo T, H và K1 đề nghị: Hoàn toàn nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh, điều kiện, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, bị cáo phạm tội ở tuổi vị thành niên, suy nghĩ nhận thức còn hạn chế và các bị cáo được bị hại, đại diện của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Đề nghị HĐXX xử các bị cáo với mức hình phạt thấp nhất để các bị cáo cải tạo tốt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu H1 đề nghị: Hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, cháu H1 đã được nhận lại điện thoại, cháu H1 và đại diện hợp pháp của cháu H1 không đề nghị các bị cáo T, H và K1 phải bồi thường thêm gì và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo H và K1 trình bày: ông C và ông N không trình bày bổ sung gì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Các bị cáo T, H và K1 không tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm (bút lục số 02); Đơn trình báo ngày 20/7/2024 của ông Đỗ Văn Q (bút lục số 02); Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, sơ đồ hiện trường vụ cướp tài sản xảy ra ngày 12/7/2024 (bút lục số 09 đến số 12); biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh vụ cướp tài sản xảy ra ngày 12/7/2024 (bút lục số 51 đến số 57); bản kết luận định giá tài sản số 40/KLGĐ, ngày 22/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện H (bút lục số 21); lời khai của người bị hại chị Nguyễn Thu H1 (bút lục từ số 267 đến số 170); lời khai của người làm chứng chị Nguyễn Thị Hương L1 (bút lục từ số 173 đến số A); lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đặng Văn K2 (bút lục từ số 177 đến số A). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 12/7/2024, tại đường Q thuộc địa phận thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Nguyễn Công T, Vũ Trung H và Đoàn Ngọc K1 có hành vi dùng dao đe dọa cướp của chị Nguyễn Thu H1, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2009 cư trú tại thôn Đ, xã H, huyện H 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu đỏ trị giá 2.500.000 đồng. Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Công T, Vũ Trung H và Đoàn Ngọc K1 đã phạm vào tội “Cướp tài sản” thuộc các trường hợp “sử dụng vũ khí, phương tiện” và “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn

công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  • d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
  • .........
  • e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
  • .........

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm, hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nơi địa phương xảy ra tội phạm. Bị cáo T phạm tội là người dưới 18 tuổi; các bị cáo H và K1 phạm tội là người dưới 16 tuổi, nhận thức của các bị cáo còn bị hạn chế, nhưng do đua đòi, ăn chơi, vì muốn có tiền tiêu sài các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội của mình. Vụ án có sự đồng phạm giản đơn bị cáo T điều khiển xe máy, áp sát xe máy bị hại để cho bị cáo H cầm dao đe doạ bị hại cướp tài sản nên 02 bị cáo giữ vai trò ngang nhau, bị cáo K1 giữ vai trò sau. Các bị cáo T, H và K1 không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra, truy tố xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, trước khi phạm tội bị cáo H có nhân thân tốt còn bị cáo T và bị cáo K1 đều có tiền sự. Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi cuộc sống xã hội một thời gian nhất định tương ứng với khung hình phạt, mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: chị Nguyễn Thu H1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu các bị cáo T, H và K1 phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác về dân sự; anh Đặng Văn K2 không yêu cầu các bị cáo T, H và K1 phải bồi thường số tiền anh đã mua chiếc điện thoại là 600.000 đồng. Vì vậy về trách nhiệm dân sự không xem xét giải quyết.

[5] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo T, H và C1 phạm tội ở độ tuổi vị thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển số đăng ký 17B5 – 53186 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Đoàn Vũ Nguyên B

đẻ bị cáo K1 nên ngày 01/10/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại ông N là đúng quy định của pháp luật.

[7] Đối với ông Đoàn Vũ N (là bố đẻ của bị cáo K1) Quá trình điều tra xác định, vào khoảng đầu tháng 7/2024, K1 tự ý lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển số đăng ký 17B5 – 53186 đi chơi. Ông N không giao xe, không biết việc K1 sử dụng chiếc xe trên đi cướp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không xử lý đối với ông N là phù hợp.

Đối với anh Đặng Văn K2 là người mua bán điện thoại, khi mua chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu đỏ, anh K2 không biết đó là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không xử lý đối với anh K2 là có căn cứ.

[8] Các bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo H và bị cáo K1 là người dưới 16 tuổi nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Công T, Vũ Trung H và Đoàn Ngọc K1 phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/7/2024.
    2. Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo Vũ Trung H 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/7/2024.
    3. Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc K1 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
  3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo H và bị cáo K1 không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: các bị cáo T, K1, H, ông C, ông N và bà L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị L1, bà

N1, anh K2 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 142/2024/HSST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (cướp tài sản)

  • Số bản án: 142/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Công Tr + Đp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger