Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2023/HSST

Ngày: 26-12-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Hoàng
  2. Bà Trần Thị Nơi

- Thư ký phiên toà: ông Trần Trung Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông (không xác định được) con bà Lê Thị T1 ( bà T1 được Nhà nước tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang); có vợ Quách Thị H (đã ly hôn) và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Nhân thân: năm 2005 thời gian tham gia Q; ngày 31/01/2023, bị Công an huyện L, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính, hình thức xử phạt Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy"; Tiền án: Bản án số 32/2020/HS-ST ngày 28/7/2020 của Tòa án nhân nhân huyện B, tỉnh Hà Nam xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành hình phạt tù ngày 28/01/2022, chấp hành xong án phí hình sự hình sự ngày 28/7/2023; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2023 đến ngày 26/9/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thái Bình (có mặt).

Người bào chữa cho các bị cáo T: bà Nguyễn Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.

Bị hại: UBND xã Đ, huyện H.

Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn B – Chủ tịch UBND xã Đ.

Đại diện theo uỷ quyền của ông B: ông Đặng Văn N, sinh năm 1955, trú tại thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình là Thủ nhang đền T4.

Người làm chứng:

  1. Anh Vũ Xuân T2, sinh năm 1976.
  2. Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  3. ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1964.
  4. Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  5. Anh Tăng Văn T3, sinh năm 1985.
  6. Nơi cư trú: thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 20/9/2023, Lê Văn T cư trú tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam đi nhờ xe ô tô của người đàn ông (không biết tên tuổi địa chỉ) đến đền T4 thuộc địa phận thôn T, xã Đ, huyện H, mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đi, T mang theo 01 chiếc tua vít có chuôi màu vàng xanh, 01 chiếc đục kim loại, 01 thanh kim loại vuông dùng để phá khóa; 01 chiếc cặp vải màu đen (đều đã qua sử dụng). Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, T đến đền T4, quan sát thấy không có ai trông coi các hòm đựng tiền công đức ở lầu Cô, lầu Cậu, nhà thờ Tổ trong khuôn viên đền T4. Lợi dụng sơ hở của ban quản lý nhà đền, T đã dùng tay mở ổ khóa các hòm đựng tiền công đức ở lầu Cô, lầu C, nhà thờ Tổ và trộm cắp tiền trong các hòm công đức cất giấu vào trong chiếc cặp mang theo. Sau đó, T phát hiện tại khu vực đền Đ1 (gian thờ Trung tế) có 01 hòm đựng tiền công đức, quan sát thấy có nhiều người đang lễ nên T đi ra ngoài đợi. Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày thấy mọi người đã về hết, T đi vào trong gian thờ T, dùng chiếc đục bằng kim loại phá ổ khóa, lấy tiền trong hòm công đức bỏ vào chiếc cặp mang theo. Thỏa đang bỏ tiền vào cặp thì bị ông Vũ Xuân T2 (quản lý nhà Đ) và Công an xã Đ, huyện H phát hiện bắt quả tang, quản lý và thu giữ: 01 chiếc cặp vải màu đen bên trong có số tiền 40.100.000 đồng (gồm nhiều tờ tiền với các mệnh giá khác nhau, từ 1.000 đồng đến 500.000 đồng); 01 thanh kim loại vuông, 01 chiếc đục kim loại và 01 chiếc tua vít có chuôi màu vàng xanh. Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm trộm cắp tài sản trên.

Bản Kết luận giám định số 1567/KL-KTHS ngày 15/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 4.788 tờ tiền cần giám định là tiền thật.

Kết luận giám định số 1606/KL-KTHS ngày 06/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh T: không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh của 03 tập file video lưu trong USB gửi giám định. Đặc điểm, hành vi của đối tượng trong file video trên được trích xuất và mô tả trong Phụ lục kèm theo Kết luận giám định.

Bản kết luận định giá tài sản số: 37/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, tỉnh Thái Bình, kết luận: 01 chiếc khóa, nhãn hiệu Việt Tiệp, ổ khóa màu đen, kích thước 4,5 x 7,5 cm, gãy chốt giữ móc khóa trong ổ khóa tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 30.000 đồng.

Bản cáo trạng số 135/CT-VKSHH ngày 27-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo T và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/9/2023.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: ông Đặng Văn N là người đại diện theo ủy quyền của bị hại đã nhận lại số tiền 40.100.000 đồng; 03 chiếc khóa, nhãn hiệu Việt Tiệp, ổ khóa màu đen, kích thước 4,5 x 7,5 cm, gãy chốt giữ móc khóa trong ổ khóa; 05 chiếc hòm công đức bằng gỗ tối màu; ông N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền gì.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc đục kim loại, đã han rỉ; 01 thanh kim loại vuông, đã han rỉ; 01 chiếc cặp vải, màu đen, có dây đeo; 01 chiếc tua vít, có chuôi màu vàng, xanh; 01 đôi giày da, màu đen; 02 chiếc vòng chuỗi hạt gỗ; 01 chiếc áo sơ mi, dài tay, màu trắng; 01 chiếc khẩu trang vải, màu xanh; 01 chiếc quần dài vải, màu đen, đều đã qua sử dụng.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo T đề nghị: Hoàn toàn nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà; đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá, xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, xử bị cáo với mức hình phạt thấp nhất.

Bị cáo T không tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những người làm chứng, đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Báo cáo vụ việc của Công an xã Đ; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản Kết luận giám định số 1567/KL-KTHS ngày 15/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh T; Kết luận giám định số 1606/KL-KTHS ngày 06/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh T; Bản kết luận định giá tài sản số: 37/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H; Lời khai của đại diện theo ủy quyền của bị hại: ông Đặng Văn N; Lời khai của những người làm chứng: anh Vũ Xuân T2, ông Nguyễn Văn V, anh Tăng Văn T3. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 10 giờ 40 phút đến 12 giờ 20 phút ngày 20/9/2023 tại đền T4, thuộc thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; Lê Văn T đã có hành vi lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của nhà đền, trộm cắp tiền công đức tại các gian thờ Lầu Cô, Lầu C1, nhà thờ Tổ, đền Đ1 (gian thờ Trung tế) số tiền 40.100.000 đồng (bốn mươi triệu một trăm nghìn đồng). Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo T thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) ...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nơi địa phương xảy ra tội phạm. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, vì muốn có tiền tiêu sài bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bản án số 32/2020/HS-ST ngày 28/7/2020 của Tòa án nhân nhân huyện B, tỉnh Hà Nam xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo chưa được xoá án tích do vậy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có thời gian tham gia Q, mẹ đẻ bị cáo được Nhà nước tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang và được người Đại diện theo uỷ quyền của bị hại là ông Đặng Văn N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo có nhân thân xấu. Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội một thời gian nhất định tương ứng với khung hình phạt, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đại diện theo ủy quyền của bị hại là ông Đặng Văn N đã nhận lại đủ số tiền 40.100.000 đồng bị cáo T đã trộm cắp. 01 chiếc khóa bị cáo đã làm hỏng trong khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 30.000 đồng. Ông N không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do vậy về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 chiếc đục kim loại, đã han rỉ; 01 thanh kim loại vuông, đã han rỉ; 01 chiếc cặp vải, màu đen, có dây đeo; 01 chiếc tua vít, có chuôi màu vàng, xanh, đều đã qua sử dụng. Đây là công cụ phương tiện phạm tội của bị cáo, cần tịch thu tiêu huỷ; 01 đôi giày da, màu đen; 02 chiếc vòng chuỗi hạt gỗ; 01 chiếc áo sơ mi, dài tay, màu trắng; 01 chiếc khẩu trang vải, màu xanh; 01 chiếc quần dài vải, màu đen, đều đã qua sử dụng. Đây là tài sản của bị cáo, bị cáo không xin lại, xét thấy các tài sản này không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu hủy.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định, là hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Bị cáo T là hộ nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo T 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/9/2023.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Đều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc đục kim loại, đã han rỉ; 01 thanh kim loại vuông, đã han rỉ; 01 chiếc cặp vải, màu đen, có dây đeo; 01 chiếc tua vít, có chuôi màu vàng, xanh; 01 đôi giày da, màu đen; 02 chiếc vòng chuỗi hạt gỗ; 01 chiếc áo sơ mi, dài tay, màu trắng; 01 chiếc khẩu trang vải, màu xanh; 01 chiếc quần dài vải, màu đen, đều đã qua sử dụng (vật chứng trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý).
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông N vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hưng Hà;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2023/HSST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 138/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Thoả phạm tội “Trộm cắp tài sản” Điều 173 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger