|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 137/2023/HS-ST Ngày 21-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Trọng Thanh
- Ông Bùi Văn Trung
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Đức - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hà Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 21-12-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Quang T, sinh năm 1990.
Nơi cư trú: thôn S, xã P, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Hà Thị V; vợ con: chưa có; Nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 22/8/2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H (có mặt).
2. Phạm Hoàng G, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V1 và bà Phạm Thị H; vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
Người làm chứng: Anh Đặng Văn T2, sinh năm 1994.
Nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
2
Những người chứng kiến:
- Nguyễn Văn C, sinh năm 1968.
- Ông Hà Thế L, sinh năm 1959.
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960.
Đều trú tại: thôn S, xã P, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/7/2023, Nguyễn Quang T đang ở nhà tại thôn S, xã P, huyện H, tỉnh Thái Bình thì có Phạm Hoàng G, cư trú tại thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình điều khiển xe mô tô đến chơi. Tại đây, T rủ G đi mua ma túy đá về cùng nhau sử dụng, G đồng ý và chở T đến cầu Đ, thuộc địa phận xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình thì dừng lại, T bảo G đứng chờ. Tuyên một mình đi vào ngõ gần đó, gặp và mua 01 gói ma túy, loại Methamphetamine của 01 người phụ nữ khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) với giá 300.000 đồng. T cầm gói ma túy ở tay trái quay lại chỗ G đứng bảo G chở về, khi đi đến gần nhà T, G gặp và trả xe mô tô cho bạn. G và T đi bộ về nhà T thấy Đặng Văn T2, sinh năm 1994, cư trú tại thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình đang đứng trước cửa, T rủ T2 vào nhà sử dụng ma túy, T2 đồng ý. G và T2 ngồi trên giường, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (01 chai nhựa trong suốt, có dán mác “STING”, nắp chai bằng nhựa màu vàng, đục hai lỗ, một lỗ có gắn một đoạn ống nhựa dạng ống hút màu hồng trắng, một đầu gắn một cóng thủy tinh; dùng 01 đoạn ống nhựa dạng ống hút, màu xanh sọc trắng, cắt nhọn một đầu, xúc ma túy đá vào cóng thủy tinh; lấy 01 bật lửa gas màu đỏ, không có chắn gió, đầu dẫn gas được gắn lò xo có cuốn giấy tráng kim bạc) do T tự chế có sẵn ở trong phòng. T lấy gói ma túy vừa mua được cho vào cóng dùng bật gas bật lửa, hơ cho ma túy đá trong cóng bốc khói, T sử dụng, sau đó đưa cho G và T2 sử dụng. T, T2 và G sử dụng mỗi người được bốn lượt thì hết số ma túy trên, T bảo T2 để bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá lên chỗ cửa sổ phía cuối giường. Lúc này Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H kiểm tra, lập biên bản vụ việc, thu giữ 01 túi nilon trong suốt có viền dập, trên viền dập có các đường kẻ màu xanh, bên trong còn bám dính các hạt tinh thể trong suốt là ma túy loại Methamphetamine; 01 chai nhựa trong suốt có dán mác “STING”, bên trong chai không chứa gì, nắp chai bằng nhựa màu vàng, đục hai lỗ, một lỗ có gắn một đoạn ống nhựa dạng ống hút màu hồng trắng, một lỗ có gắn 01 cóng thủy tinh, bên trong còn bám dính chất dạng tinh thể màu trắng đục là ma túy loại Methamphetamine; 02 ống nhựa dạng ống hút màu xanh, sọc trắng, đều cắt nhọn một đầu, bên trong đều không chứa gì, 01 nắp chai bằng nhựa, màu xanh đục 2 lỗ;
3
01 bật lửa gas màu đỏ, không có chắn gió, đầu dẫn gas được gắn lò xo có cuốn giấy tráng kim bạc.
Bản kết luận giám định số 1161/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Các hạt tinh thể trong suốt bám dính trong một túi nilon trong suốt có viền dập, trên viền dập có đường kẻ ngang màu xanh gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng hạt tinh thể trong suốt bám dính. Các hạt tinh thể màu trắng đục bám dính trong một cóng thủy tinh gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng đục bám dính. (Bút lục số 67, 68);
Bản kết luận giám định số 1162/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Trong các mẫu nước tiểu M1, M2, M3 thu của T, G và T2 gửi giám định đều chứa sản phẩm chuyển hóa của ma túy, loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số 129/CT-VKSHH ngày 20-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố các bị cáo Nguyễn Quang T, Phạm Hoàng G về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự (viết tắt BLHS).
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Quang T, Phạm Hoàng G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T, Phạm Hoàng G phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 BLHS; xử phạt bị cáo T từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/8/2023.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 BLHS; xử phạt bị cáo G từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/8/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị HĐXX xử lý vật chứng, tài sản thu giữ của các bị cáo và án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận gì, đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người làm chứng và người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của BLTTHS.
[3] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản vụ việc (Bút lục từ số 48 đến số 51); Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ (Bút lục số 52, 53); Bản kết luận giám định số 1161/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T (Bút lục số 67, 68); Bản kết luận giám định số 1162/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T (Bút lục số 76, 77); Lời khai của người làm chứng anh Đặng Văn T2 (Bút lục từ số 164 đến số A); Lời khai của những người chứng kiến ông Nguyễn Văn C, ông Hà Thế L, và ông Nguyễn Văn T1 (Bút lục từ số 168 đến số A). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 27/7/2023, tại nhà của Nguyễn Quang T ở thôn S, xã P, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nguyễn Quang T, Phạm Hoàng G có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Quang T là người khởi xướng, cung cấp ma túy, loại Methamphetamine, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy, bật lửa hơ cho ma túy trong cóng bốc khói cho T, G và anh Đặng Văn T2, sinh năm 1994, cư trú tại thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình sử dụng. Phạm Hoàng G có hành vi điều khiển xe máy chở T đi mua ma túy về cho T, G và T2 sử dụng. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố các bị cáo T và G là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
5
- a) ...
- b) Đối với 02 người trở lên;
- c) ...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà các bị cáo T và G thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước độc quyền quản lý về các chất ma túy. Các bị cáo đều trên 18 tuổi, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe của con người, làm suy kiệt kinh tế gia đình, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân phát sinh của rất nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự xã hội, Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng...trái phép chất ma túy, nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vụ án có sự đồng phạm giản đơn, bị cáo T là người khởi xướng, cung cấp ma túy, loại Methamphetamine, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy, bật lửa hơ cho ma túy trong cóng bốc khói cho T, G và anh Đặng Văn T2 sử dụng, nên bị cáo T giữ vai trò đầu, bị cáo G giữ vai trò sau. Tại phiên tòa cũng như tại giai đoạn điều tra, truy tố các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS; các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự; trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T có nhân thân xấu, bị cáo G có nhân thân tốt. Từ những nhận xét trên Hội đồng xét xử, xét thấy đối với các bị cáo cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc tương ứng với khung hình phạt cách ly các bị cáo khỏi cuộc sống ngoài xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo T, G phạm tội không vì mục đích lợi nhuận, các bị cáo đều không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: 02 phong bì niêm phong số 1161/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T hoàn trả mẫu vật giám định, 01 chai nhựa trong suốt có dán mác “STING”, nắp chai bằng nhựa màu vàng, đục hai lỗ, một lỗ có gắn một đoạn ống nhựa dạng ống hút màu hồng trắng, bên trong không chứa gì; 02 ống nhựa dạng ống hút màu xanh, sọc trắng, đều cắt nhọn một đầu, bên trong đều không chứa
6
gì; 01 nắp chai bằng nhựa, màu xanh, đục 2 lỗ; 01 bật lửa gas màu đỏ, không có chắn gió, đầu dẫn gas được gắn lò xo có cuốn giấy tráng kim bạc. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội của các bị cáo, cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Quang T khai số ma tuý, loại Methamphetamine Tuyên, G, T2 sử dụng tại nhà T ngày 27/7/2023, T mua của người phụ nữ khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) tại khu vực cầu Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành điều tra, xác minh, ngoài lời khai của T không có tài liệu, chứng cứ nào khác, không xác định được người đã bán ma túy cho T nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
[8] Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy: ngày 27/7/2023, tại nhà của Nguyễn Quang T ở thôn S, xã P, huyện H, tỉnh Thái Bình; Đặng Văn T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức “Cảnh cáo” đối với T2 là phù hợp
[9] Về án phí: Các bị cáo T và G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quang T và Phạm Hoàng G phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điều luật và mức hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo T 07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/8/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo G 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/8/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
- 3.1. Tịch thu để tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong số 1161/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T hoàn trả mẫu vật giám định, 01 chai nhựa trong suốt có dán mác “STING”, nắp chai bằng nhựa màu vàng, đục hai lỗ, một lỗ có gắn một đoạn ống nhựa dạng ống hút màu hồng trắng, bên trong không chứa gì; 02 ống nhựa dạng ống hút màu xanh, sọc trắng, đều cắt nhọn một đầu, bên trong đều không chứa gì; 01 nắp chai bằng nhựa, màu xanh, đục 2 lỗ; 01 bật lửa gas màu đỏ, không có chắn gió, đầu dẫn gas được gắn lò xo có cuốn giấy tráng kim bạc (Vật chứng của vụ
7
án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý).
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo T và G mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo T và G có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Nhàn |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Hưng Hà, ngày 21 tháng 12 năm 2023
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ ngày 21 tháng 12 năm 2023
Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Trọng Thanh và ông Bùi Văn Trung.
8
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 123/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Quang Tuyên, sinh năm 1990.
Nơi cư trú: thôn Sòi 1, xã Phúc Khánh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
2. Phạm Hoàng Giang, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: thôn Hà Nguyên, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quang Tuyên và Phạm Hoàng Giang phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điều luật và mức hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tuyên 07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/8/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Giang 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/8/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
- 3.1. Tịch thu để tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong số 1161/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn trả mẫu vật giám định, 01 chai nhựa trong suốt có dán mác “STING”, nắp chai bằng nhựa màu vàng, đục hai lỗ, một lỗ có gắn một đoạn ống nhựa dạng ống hút màu hồng trắng, bên trong không chứa gì; 02 ống nhựa dạng ống hút màu xanh, sọc trắng, đều cắt nhọn một đầu, bên trong đều không chứa gì; 01 nắp chai bằng nhựa, màu xanh, đục 2 lỗ; 01 bật lửa gas màu đỏ, không có chắn gió, đầu dẫn gas được gắn lò xo có cuốn giấy tráng kim bạc (Vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý).
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Tuyên và Giang mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
9
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Tuyên và Giang có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 21-12-2023.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 137/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 137/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Nguyễn Quang Tuyên, Phạm Hoàng Giang phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 BLHS
