Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HS - ST

Ngày: 10/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh Hậu

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hường

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Nguyễn Thị Phương Liên - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Lê Hoàng Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 85/2024/HSST ngày 12 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST – HS ngày 02/5/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hữu Q Sinh năm 1987; ĐKHKTT: TDP Tó, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Số B, đường H, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Hữu H con bà: Đỗ Thị T. Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ 02; Vợ: Trần Thị L (đã ly hôn) Con: Có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H . Có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Văn C Sinh năm 1985; ĐKHKTT: Xóm C, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Nơi ở hiện tại: số A ngách B ngõ A phố Đ, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không. Trình độ họ vấn 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Công Chính Con bà: Đinh Thị Y. Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ 03; Vợ: Vương Hải Y1 Con: Có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn N sinh năm 1990, Nơi thường trú: TDP số 2, phường T, quận N, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 40 ngày 26/12/2023, Công an phường T tiến hành kiểm tra hành chính tại địa chỉ số B đường H, T, phường T, quận N, Hà Nội phát hiện tại tầng 2 của ngôi nhà có Nguyễn Hữu Q, Nghiêm Trung D (sinh năm 1977, HKTT tại T, phường T, quận N, Hà Nội) và Nguyễn Văn N. Tại chỗ, N khai nhận mua ma túy Heroine của Q và sử dụng tại đây, phát hiện dưới sàn nhà chỗ N ngồi có 01 mẩu giấy bạc và 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng. Nguyễn Hữu Q cũng tự nguyện giao nộp 01 vỏ hộp kẹo “Mentos”, 01 vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bên trong đều chứa chất bột màu trắng (Q khai là ma túy Heroine cất giấu để bán) và 01 cân điện tử. Công an phường T đã lập biên bản và đưa các đối tượng về trụ sở để làm rõ vụ việc.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Nguyễn Hữu Q khai nhận: Trần Văn C là người đã bán ma túy cho Q trong ngày 23/12/2023. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn C tại số A, ngách B, ngõ A Đ, phường T, quận N, Hà Nội, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 lọ nhựa bên trong có 01 túi nilon chứa 19 viên nén hình tròn màu hồng đều có dập chữ WY; 01 lọ nhựa bên trong có 01 túi nilon chứa cục bột màu trắng và 02 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng và 01 cân điện tử màu đen. (C khai là ma túy Methamphetamine và H1 tàng trữ nhằm mục đích để bán).

Tại Kết luận giám định số 67/KL-KTHS ngày 02/01/2024 và số 87/KL-KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H, xác định:

  • * Tang vật thu giữ của Nguyễn Hữu Q gồm:
  • Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilông (để trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L1) và 01 túi nilông (để trong 01 hộp kẹo cao su) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 2,446 gam.
  • 01 cân điện tử màu đen có dính ma túy loại Heroine
  • * Tang vật thu giữ của Nguyễn Văn N gồm:
  • 01 tờ giấy bạc và 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng đều có dính ma túy loại Heroine.
  • * Tang vật thu giữ của Trần Văn C:
  • 19 viên nén hình tròn màu hồng có chữ WY bên trong 01 túi nilong (để trong 01 lọ nhựa) đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 1,881 gam.
  • Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilong và 02 gói giấy (để trong 01 lọ nhựa) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 1,115 gam.
  • 01 cân điện tử màu đen có dính ma túy loại Heroine.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng tháng 12/2023, C có quen biết với 01 người nam giới tự giới thiệu tên Bùi Văn K (sinh năm 1979, quê tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định) thường xuyên đến phòng trọ của C tại số A, ngách B, ngõ A phố Đ, phường T và mang theo ma túy đến cất giấu để sử dụng. Do là người nghiện ma túy và cần tiền chi tiêu cá nhân, cũng như ma túy sử dụng nên C và K đã bàn bạc K sẽ cung cấp ma túy còn C sẽ đi giao và thu tiền bán ma túy của khách thì K sẽ cho C ma túy để sử dụng hoặc tiền chi tiêu. Ngày 22/12/2023, K mang 02 túi nilon ma túy gồm 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 20 viên nén màu hồng có chữ WY (Methamphetamine) và 01 túi nilon chứa ma túy Heroin dạng bột cục màu trắng đến cất giấu ở phòng trọ của C để bán kiếm lời. Đến chiều ngày 23/12/2023, Q sử dụng số điện thoại 0877.757.xxx gọi đến số điện thoại 0971.201.xxx của C hỏi mua 4.000.000 đồng ma túy Heroine. C gọi đến số điện thoại 0355.029.xxx thông báo với K thì K bảo C lấy 01 túi ma túy Heroine trong phòng có đặc điểm là 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng (đã được K chia sẵn từ trước) đi giao cho Q. C một mình thuê G đi đến số nhà B đường H, phường T, quận N, Hà Nội giao cho Q và thu số tiền 4.000.000 đồng. Số tiền này, C đã mang về đưa lại cho K. Do Nguyễn Hữu Q cũng là đối tượng nghiện ma túy Heroine, không có công ăn việc làm nên sau khi mua được ma túy của C, Q cũng đem cất giấu tại nhà của mình để bán kiếm lời. Q mang về phòng chia số ma túy mua được làm 02 túi gồm: 01 túi để trong vỏ hộp kẹo Mentos (cất tại tủ quần áo phòng ngủ) và 01 túi để trong vỏ hộp thuốc lá Thăng Long (cất trong túi áo khoác). Khoảng 17 giờ ngày 26/12/2023, Nguyễn Văn N (sinh năm 1990, HKTT tại TDP số B M, phường T, quận N, Hà Nội) sử dụng số điện thoại 0877.261.xxx gọi đến số điện thoại 0877.757.xxx của Q hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroine, Q đồng ý. Sau đó, N đến nhà Q thì Q đưa cho N 01 cục ma túy Heroine gói trong tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và nhận lại 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N mệt nên xin Q cho sử dụng ma túy tại nhà Q thì Q đồng ý và chỉ N lên phòng ngủ tầng 02 để sử dụng. Sau đó, N ngồi sử dụng ma túy tại tầng 2 nhà Q bằng hình thức đốt ma túy qua 01 tờ giấy bạc (Nam tìm thấy được trong nhà Q) và dùng tẩu hút khói vào cơ thể (tẩu hút được quấn bằng tờ tiền 2.000 đồng). Sau khi sử dụng hết số ma túy này, Nam vứt mẩu giấy bạc cùng tờ tiền 2000 đồng xuống dưới sàn nhà và ngồi nghỉ. Đến 18 giờ 40 phút cùng ngày thì Cơ quan công an đến kiểm tra, phát hiện và đưa các đối tượng cùng tang vật liên quan về trụ sở để làm việc.

Ngoài hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Hữu Q trong ngày 23/12/2023. Sáng ngày 26/12/2023, Nguyễn Văn C1 (sinh năm 1990, HKTT tại G, G, Nam Định là bạn của C) đến chơi tại phòng trọ của C. Tại đây, C1 hỏi mua của C 01 viên ma túy hồng phiến (ma túy Methamphetamine) với giá 50.000 đồng. C đồng ý và lấy 01 viên ma túy có đặc điểm là 01 viên màu hồng có chữ WY bán cho C1. Sau đó, C đi nấu cơm còn C1 ngồi tại phòng của C và sử dụng hết cho bản thân bằng cách hút vào cơ thể.

Đối với người tên K đã giao ma túy cho Trần Văn C đi bán: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định nhưng không có ai tên Bùi Văn K – sinh năm 1979 như lời khai của Trần Văn C. Tiến hành xác minh số điện thoại 0355.029.xxx mà K sử dụng để liên lạc với C, xác định số điện thoại này đăng ký chủ thuê bao là anh Bùi Văn T1 (sinh năm 2004, HKTT tại xóm A, xã G, xã G, tỉnh Nam Định). Anh T1 trình bày: Anh không biết ai là người sử dụng thông tin cá nhân của mình để đăng ký số điện thoại 0355.029.xxx và cũng không quen biết ai tên là Trần Văn C. Tiến hành cho C nhận dạng đối với anh T1 nhưng C không biết anh T1 là ai. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Đối với Nghiêm Trung D có mặt tại phòng ngủ tầng 2 nhà Nguyễn Hữu Q khi N sử dụng ma túy: Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định D không biết và không tham gia vào việc mua bán chất ma túy giữa Q và N hoặc giúp sức cho N sử dụng ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với D.

Đối với hành vi Nguyễn Văn C1 sử dụng ma túy tại phòng trọ của Trần Văn C: Quá trình điều tra, Công khai nhận không nói cho C về việc mình sử dụng ma túy tại phòng. Khi C1 sử dụng ma túy, C đang nấu ăn dưới bếp nên C không thấy và cũng không tham gia. Vì vậy, cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Trần Văn C về tội “ Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn C1: Ngày 29/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với C1 và N về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, hình thức xử phạt: Phạt tiền.

Tại cơ quan điều tra, lời khai nhận của Nguyễn Hữu Q và Trần Văn C phù hợp với lời khai của những người liên quan và các tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 91/CT – VKSNTL ngày 11/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội truy tố ra trước Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm để xét xử:

  • + Bị cáo Nguyễn Hữu Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự.
  • + Bị cáo Trần Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” điểm b, p khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đề nghị áp dụng:

  • + Đối với Nguyễn Hữu Q: áp dụng khoản 1 điều 251, khoản 1 điều 256, điểm s khoản 1, 2 điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự
  • Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hữu Q 30 tháng tù đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 30 tháng tù đến 36 tháng tù về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 05 năm tù đến 06 năm tù
  • + Đối với Trần Văn C: áp dụng điểm b, p điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự
  • Xử phạt bị cáo Trần Văn C 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Tịch thu tiêu hủy: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilông (để trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L1) và 01 túi nilông (để trong 01 hộp kẹo cao su) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 2,446 gam; Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilong và 02 gói giấy (để trong 01 lọ nhựa) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 1,115 gam.(Tổng 3,561 gam Heroine) và 19 viên nén hình tròn màu hồng có chữ WY bên trong 01 túi nilong (để trong 01 lọ nhựa) đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 1,881 gam. 01 cân điện tử màu đen có dính ma túy loại Heroine.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia màu đen lắp 01 sim và 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 lắp 01 sim; 01 tờ giấy bạc và 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng đều có dính ma túy loại Heroine.
  • Truy thu sung quỹ nhà nước của Trần Văn C: số tiền 50.000 đồng thu lợi bất chính khi bị cáo C bán ma túy cho Nguyễn Văn C1 và 4.000.000 đồng khi C bán ma túy cho Nguyễn Hữu Q. Truy thu sung quỹ nhà nước: số tiền 200.000 đồng thu lợi bất chính của Nguyễn Hữu Q.

Các bị cáo Nguyễn Hữu Q và Trần Văn C khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Hữu Q, Trần Văn C khai nhận: Chiều ngày 23/12/2023, tại số nhà B đường H, phường T, quận N, Hà Nội, Trần Văn C đã có hành vi bán trái phép 2,446 gam ma túy Heroine cho Nguyễn Hữu Q thu lợi số tiền 4.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Q đã chia số ma túy Heroine mua được làm 02 túi và bán trái phép 01 túi ma túy Heroine cho Nguyễn Văn N vào khoảng 17 giờ ngày 26/12/2023 thu lợi số tiền 200.000 đồng và cho N sử dụng ma túy tại nhà mình tại số B đường H, phường T, quận N thì bị Công an phường T kiểm tra, phát hiện nên bắt giữ đưa về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N để xử lý theo pháp luật.

Ngoài hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Hữu Q, Trần Văn C còn có hành vi tàng trữ 1,881 gam ma túy Methamphetamine và 1,115 gam Heroine tại phòng trọ của mình ở số A, ngách B, ngõ A phố Đ, phường T, quận N để bán kiếm lời. Sáng ngày 26/12/2023, C đã có hành vi bán trái phép 01 viên ma túy Methamphetamine cho Nguyễn Văn C1 thu lợi số tiền 50.000 đồng.

Lời khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu Q đủ yếu tố cầu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự và tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 256 Bộ luật Hình sự

Hành vi của Trần Văn C đủ yếu tố cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xét tính chất vụ án: Tệ nạn nghiện hút ma tuý đang bị toàn thể xã hội lên án. Nghiện hút ma tuý gây suy kiệt về sức khoẻ, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội. Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma tuý. Dư luận xã hội đòi hỏi phải trừng trị thật nghiêm khắc đối với loại tội phạm này.

[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: bị cáo Nguyễn Hữu Q, Trần Văn C có nhận thức pháp luật, biết nhà nước cấm tàng trữ, mua bán ma túy nhưng vẫn phạm tội. Xét tính chất, mức độ phạm tội cần cách ly bị cáo Nguyễn Hữu Q, Trần Văn C ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo Q, C chưa có tiền án, tiền sự khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về việc phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

Xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Hữu Q và Trần Văn C.

[5] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilông (để trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L1) và 01 túi nilông (để trong 01 hộp kẹo cao su) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 2,446 gam; Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilong và 02 gói giấy (để trong 01 lọ nhựa) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 1,115 gam.( Tổng 3,561 gam Heroine) và 19 viên nén hình tròn màu hồng có chữ WY bên trong 01 túi nilong (để trong 01 lọ nhựa) đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 1,881 gam. 01 cân điện tử màu đen có dính ma túy loại Heroine.

Tịch thu sung quỹ: 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng, 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia màu đen lắp 01 sim, 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 lắp 01 sim.

Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 4.050.000 đồng thu lợi bất chính của Trần Văn C và số tiền 200.000 đồng thu lợi bất chính của Nguyễn Hữu Q.

[6] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, khoản 1 điều 256, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hữu Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, 30 (Ba mươi) tháng tù về tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2023.

  2. Căn cứ vào b, p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Xử phạt: bị cáo Trần Văn C 7 (bảy) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2023.

  3. Căn cứ vào Điều 47 BLHS. Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

    Tịch thu tiêu hủy:

    • - 02 phong bì niêm phong có chữ ký của Nguyễn Hữu Q, cán bộ công an phường T và giám định viên phòng K1 - C2.
    • - 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn N, cán bộ công an phường T và giám định viên phòng K1 - C2.
    • - 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Trần Văn C, cán bộ công an phường T và giám định viên phòng K1 - C2
    • - 01 hộp niêm phong có chữ ký của Trần Văn C, cán bộ công an phường T và giám định viên phòng K1 - C2

    Tịch thu sung quỹ:

    • - 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia màu đen lắp 01 sim
    • - 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 lắp 01 sim.
    • (Tại thời điểm bàn giao máy không được bật nguồn nên không kiểm tra được chất lượng bên trong)
    • Tịch thu sung quỹ nhà nước 2.000 đồng.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 169 ngày 15/04/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 15/4/2024).
    • Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 4.050.000 đồng thu lợi bất chính của Trần Văn C và số tiền 200.000 đồng thu lợi bất chính của Nguyễn Hữu Q.
    • Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm +HN
  • - TAND Tp Hà Nội
  • - Công an quận Nam Từ Liêm
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm
  • - Lưu hồ sơ + văn phòng Toà án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

LÊ THỊ KHANH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS - ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 126/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hữu Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger