|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/HS-ST
Ngày 24/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lưu; Bà Lê Thị Xuân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
1/ Đặng Anh T, sinh năm 2004; Giới tính: Nam
HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn Tiến, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1978; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 03; Vợ, con: Không
- Tiền án, tiền sự: Không
- Nhân thân: Tại bản án số 515/2023/HSPT ngày 22/6/2023 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng tội gây rối trật tự công cộng. Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
2/ Nguyễn Ngọc N, sinh năm 2004; Giới tính: Nam
HKTT: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Trang, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 03; Vợ, con: Không
- Tiền án, tiền sự: Không
- Nhân thân: Tại bản án số 02/2022/GĐ &NCTN-HSPT ngày 19/01/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt 20 tháng tù tội gây rối trật tự công cộng. Ra trại ngày 4/5/2023. Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
1/ Chị Đào Thị N, sinh năm 2001; (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh).
2/ Chị Ngô Thị M, sinh năm 2004; (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Nội Viên, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1978; HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội. (có mặt)
1/ Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1976;
HKTT: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Đặng Anh T và Nguyễn Ngọc N là bạn bè xã hội và đều là đối tượng không có việc làm, không có thu nhập, nên đã rủ nhau đi cướp giật tài sản bán lấy tiền chi tiêu. Tiền và Nam thực hiện 02 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản trên địa bàn huyện Tiên Du, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 13/3/2024, Tiền điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, không đeo biển kiểm soát, chở Nam đi từ phường Khắc Niệm, TP.Bắc Ninh đến Khu công nghiệp Vsip, vừa đi vừa quan sát những người đi đường xem ai có tài sản sơ hở thì cướp giật. Khi đi đến đoạn đường 6B-KCN Vsip thuộc địa phận thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, Tiền và Nam thấy Chị Đào Thị N, sinh năm 2001 ở thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng đang điều khiển xe đạp điện đi phía trước cùng chiều, trong giỏ xe chị Ngọc có để 01 chiếc túi xách da màu đen. Tiền bảo Nam: “Cái nào giật được thì bạn giật, không thì để tôi giật sau bạn cầm”. Ý Tiền sẽ giật chiếc túi xách này rồi đưa cho Nam. Nam đồng ý. Tiền điều khiển xe mô tô vượt lên áp sát phía bên trái xe đạp điện của chị Ngọc, rồi nhanh chóng dùng tay phải giật chiếc túi xách ở giỏ xe của chị Ngọc đưa cho Nam cầm. Sau đó, Tiền tăng ga phóng xe bỏ chạy ra hướng cầu Đồng Xép lên đường QL1A và chạy về hướng thị trấn Lim. Trên đường đi, Nam bỏ chiếc túi xách ra kiểm tra thấy bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu đen, 01 thẻ công nhân mang tên Đào Thị Ngọc cùng một số đồ dùng cá nhân. Tiền cất chiếc điện thoại này vào túi quần. Còn chiếc túi xách, thẻ công nhân và các đồ dùng cá nhân bên của chị Ngọc, Nam vứt ở rìa đường cao tốc thuộc địa phận Duệ Đông, thị trấn Lim. Sau đó, Tiền điều khiển xe mô tô chở Nam đi đến cửa hàng điện thoại “Bảo Anh Mobile" ở Thôn T, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội, bán chiếc điện thoại cướp giật được của chị Ngọc cho anh Đào Xuân Đoán, sinh năm 1989 ở cùng thôn với Tiền, là chủ cửa hàng được 1.500.000 đồng. Tiền cầm 800.000 đồng và đưa cho Nam 700.000 đồng. Số tiền trên cả hai đã chi tiêu cá nhân hết
Ngày 16/3/2024, Chị Đào Thị N đã đến cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du trình báo sự việc.
Lần thứ hai: Với cách thức như trên, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/3/2024, Tiền tiếp tục điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, không đeo biển kiểm soát chở Nam đi theo đường liên xã Cống Bựu – Đại Đồng sang địa bàn xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du. Khi đi đến địa phận Chợ Sơn, xã Việt Đoàn thì Tiền và Nam thấy chị Ngô Thị Nhung, sinh năm 1998 ở thôn Nội Viên, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du chở sau là chị Ngô Thị M sinh năm 2004 (chị Mai là em gái chị Nhung) đi chiều ngược lại. Chị Mai đang cầm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu trắng nghe ở tai trái. Thấy vậy, Tiền liền quay đầu xe đuổi theo xe của chị Nhung rồi vượt lên áp sát phía bên trái xe chị Nhung và nhanh chóng dùng tay phải với sang cướp giật chiếc điện thoại của chị Mai. Tiền đưa lại chiếc điện thoại vừa giật được của chị Mai cho Nam rồi tăng ga phóng xe bỏ chạy về hướng cầu Đồng Xép, qua địa bàn thành phố Từ Sơn về huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Tiền đến cửa hàng điện thoại “Bảo Anh Mobile” và bán chiếc điện thoại vừa cướp giật được cho anh Đoán với giá 1.000.000 đồng. Tiền chia cho Nam 500.000 đồng. Số tiền trên cả hai đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 16/3/2024, chị Ngô Thị M đã đến cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du trình báo sự việc.
Ngày 19/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đặng Anh T và Nguyễn Ngọc N về hành vi “Cướp giật tài sản”.
Ngày 25/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du định giá 02 chiếc điện thoại di động mà Đặng Anh T và Nguyễn Ngọc N đã cướp giật của Chị Đào Thị N ngày 13/3/2024 và chị Ngô Thị M ngày 15/3/2024.
Ngày 08/4/2024, tại Bản kết luận định giá tài sản số 44 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du kết luận:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu đen, có dung lượng 64GB. Tài sản đã qua sử dụng. Có giá trị còn lại là 4.500.000 đồng.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, có dung lượng 64GB. Tài sản đã qua sử dụng. Có giá trị còn lại là 8.000.000 đồng.
Về thu giữ vật chứng:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đeo biển kiểm soát 29S2-069.97, số khung RLHJA3927N015286, số máy JA39E2511509 do Đặng Anh T tự nguyện giao nộp ngày 19/3/2024.
- 01 chiếc thẻ nhân viên của Công ty TNHH Wisol Hà Nội, mang tên Đào Thị Ngọc thu giữ ngày 19/3/2024, trong quá trình thân dẫn Đặng Anh T đến nơi các bị can vứt túi và đồ dùng cá nhân của chị Ngọc tại địa điểm cạnh đường dẫn từ TL 276 vào QL1A thuộc địa phận thôn Duệ Đông, thị trấn Lim, huyện Tiên Du.
- 01 chiếc đĩa DVD bên trong có lưu giữ 04 đoạn video clip dữ liệu camera an ninh tại quán điện thoại Bảo Anh Mobile của anh Đào Xuân Đoán thể hiện hình ảnh Đặng Anh T đến cửa hàng của anh bán chiếc điện thoại di động iphone XS max màu trắng vào ngày 13/3/2024 và chiếc điện thoại di động iphone 11 Pro Max vào ngày 15/3/2024, do anh Đoán tự nguyện giao nộp ngày 19/3/2024.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS max, màu đen của Chị Đào Thị N và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng của chị Ngô Thị M. Sau khi Tiền và Ngọc bán 02 chiếc điện thoại này cho anh Đào Xuân Đoán. Anh Đoán đã tháo linh kiện điện thoại của 02 chiếc điện thoại này và thay thế, bán cho khách đến sửa chữa điện thoại. Anh Đoán không biết tên tuổi, địa chỉ của những người khách này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du chưa thu hồi được 02 chiếc điện thoại để trả lại cho chị Ngọc và chị Mai.
- Đối với chiếc túi xách màu đen và các đồ cá nhân trong túi của chị Ngô Thị M. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã thân dẫn Đặng Anh T, Nguyễn Ngọc N đến nơi mà các bị can khai đã vứt các tài sản này. Tuy nhiên, quá trình thân dẫn không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài sản gì. Chị Mai không yêu cầu định giá các tài sản này do giá trị tài sản không lớn.
Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave, màu trắng mà Đặng Anh T điều khiển chở Nguyễn Ngọc N cướp giật điện thoại vào ngày 13/3/2024 và 15/3/2024. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe này đăng ký biển kiểm soát số 29S2-069.97, chủ sở hữu là anh Đặng Anh Tú, sinh năm 2000 (anh Tú là anh trai của Đặng Anh T). Anh Tú không biết Tiền sử dụng chiếc xe trên để cướp giật tài sản. Ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã trả lại chiếc xe trên cho anh Tú là phù hợp.
Đối với chiếc thẻ nhân viên mang tên Đào Thị Ngọc là tài sản của chị Ngọc. Ngày 10/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã trả lại chiếc thẻ trên cho chị Ngọc là phù hợp.
Về bồi thường dân sự:
Đặng Anh T và Nguyễn Ngọc N đã tác động đến mẹ đẻ là chị Nguyễn Thị V và chị Nguyễn Thị L để bồi thường cho Chị Đào Thị N số tiền 4.500.000 đồng và chị Ngô Thị M số tiền 8.000.000 đồng. Chị Ngọc và chị Mai đã nhận đủ số tiền, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo
Chị Nguyễn Thị V và chị Nguyễn Thị L không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường cho các chị.
Tại Cơ quan điều tra, Tiền và Nam đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 63/CT-VKS – TD ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tiên Du để xét xử bị cáo Đặng Anh T và Nguyễn Ngọc N về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Do không có tiền nên Tiền và Nam đã nảy sinh ý định đi cướp giật tài sản, nên trong 02 ngày 13/3/2024 và 15/3/2024, trên địa bàn huyện Tiên Du, Đặng Anh T có hành vi điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Ngọc N 02 lần cướp giật tài sản: Lần thứ nhất: Các bị cáo cướp giật được 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS max màu đen, có trị giá 4.500.000 đồng của Chị Đào Thị N. Lần thứ hai: Cướp giật được 01 Iphone 11 Promax màu trắng, có trị giá 8.000.000 đồng của chị Ngô Thị M. Tổng giá trị tài sản là 12.500.000 đồng.
Với hành vi dùng thủ đoạn nguy hiểm Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tài sản của công dân mà còn làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong xã hội. Nên cần phải xử lý áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, tác động gia đình bồi thường cho người bị hại, người bị hại có đơn xin cho các bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo phạm tội 02 lần, do vậy các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tại điểm g, khoản 1, Điều 52 BLHS.
Đối với bị cáo Đặng Anh T Tại bản án số 515/2023/HSPT ngày 22/6/2023 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng tội gây rối trật tự công cộng, trong thời gian thử thách bị cáo lại phạm tội mới, vì vậy chuyển 18 tháng tù cho hưởng án treo sang tù giam. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án và được trừ thời gian đã tạm giữ của bản án số 515/2023/HSPT ngày 22/6/2023 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (từ ngày 15/3/2022 đến ngày 22/3/2022).
Bị cáo Đặng Anh T và Nguyễn Ngọc N có nhân thân xấu, bị cáo Tiền tại bản án số 515/2023HSPT ngày 22/6/2023 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng tội gây rối trật tự công cộng. Bị cáo Nam, tại bản án số 02/2022/ GĐ &NCTN-HSPT ngày 19/01/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt 20 tháng tù tội gây rối trật tự công cộng. Khi phạm tội các bị cáo chưa đủ 18 tuôi, theo quy định của pháp luật không được coi là tái phạm. Song cũng cần xem xét đối với các bị cáo. Trong vụ án này có tính chất đồng phạm, nhưng giản đơn, không có sự phân công bàn bạc, trong vụ án này bị cáo Tiền có vai trò cao hơn bị cáo Nam.
[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới giúp các bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần phải áp dụng đối với các bị cáo, nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave, màu trắng mà Đặng Anh T điều khiển chở Nguyễn Ngọc N cướp giật điện thoại vào ngày 13/3/2024 và 15/3/2024. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe này đăng ký biển kiểm soát số 29S2-069.97, chủ sở hữu là anh Đặng Anh Tú. Anh Tú không biết Tiền sử dụng chiếc xe trên để cướp giật tài sản. Ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã trả lại chiếc xe trên cho anh Tú, xét phù hợp với quy định pháp luật chấp nhận. Đối với chiếc thẻ nhân viên mang tên Đào Thị Ngọc là tài sản của chị Ngọc. Ngày 10/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã trả lại chiếc thẻ trên cho chị Ngọc là phù hợp. Nên không giải quyết trong vụ án này.
[8] Về dân sự vụ án: Người bị hại đã được bồi thường và không yêu cầu giải quyết, có đơn xin cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường thay cho các bị cáo để trả cho bị hại. Nên không giải quyết ở vụ án này.
- Liên quan trong vụ án này có anh Đào Xuân Đoán là người mua 02 chiếc điện thoại di động mà Đặng Anh T và Nguyễn Ngọc N đã cướp giật ngày 13/3/2024 và 15/3/2024. Khi mua 02 chiếc điện thoại này anh Đoán không biết, Tiền và Nam nói với anh Đoán đây là điện thoại của người khác cầm cố, không lấy lại. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du không xử lý đối với anh Đoán là phù hợp.
Đối với anh Đặng Anh Tú, anh Tú không biết Đặng Anh T sử dụng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29S2-069.97 để đi cướp giật tài sản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du không xử lý đối với anh Tú là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Anh T và Nguyễn Ngọc N phạm tội “Cướp giật tài sản”
Căn cứ vào điểm d, khoản 2, Điều 171; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38; 17, Điều 58, Điều 56: khoản 5, Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo: Đặng Anh T 40 (Bốn mươi) tháng tù tội Cướp giật tài sản. Chuyển 18 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 515/2023/HSPT ngày 22/6/2023 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội sang tù giam. Buộc bị cáo Đặng Anh T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 58 (Năm mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam từ ngày 19/3/2024. Nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ của bản án số 515 /2023/HSPT ngày 22/6/2023 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (từ ngày 15/3/2022 đến ngày 22/3/2022).
Căn cứ vào điểm d, khoản 2, Điều 171; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38; 17; Điều 58, Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Ngọc N 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam từ ngày 19/3/2024.
Tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Hưng |
Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 119/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Anh Tiền và Nguyễn Ngọc Nam phạm tội “Cướp giật tài sản”
