Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2023/HS-ST

Ngày 27-10-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Bùi Văn Trung
  2. Ông Trần Đăng Tuấn

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Trung Đức - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh năm 1995

Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc M1 và bà Nguyễn Thị K; vợ, con: chưa có; Tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/6/2023, đến ngày 02/7/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thái Bình (có mặt).

Những người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn Y, sinh năm 1964 (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  3. Anh Đào Văn T, sinh năm 1980 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 26/6/2023, tại đoạn đường Q thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình Công an huyện H phát hiện 02 người đàn ông điều khiển xe máy có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên yêu cầu dừng kiểm tra. Người đàn ông điều khiển xe máy phóng xe bỏ chạy. Người đàn ông ngồi phía sau xe khai tên Nguyễn Văn M, sinh năm 1995, nơi cư trú thôn V, xã H, huyện H. M tự nguyện lấy từ túi áo ngực phía trước, bên phải đang mặc 01 túi nilon trong suốt có viền dập, trên nền viền dập có đường kẻ ngang màu xanh bên trong chứa các hạt tinh thể là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,1682 gam. M khai nhận gói trên là ma túy, loại ma túy đá, cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành niêm phong vật chứng trên theo quy định trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn Y và anh Đào Văn T. Tiếp tục kiểm tra người Mạnh không thu giữ, quản lý đồ vật, tài sản gì. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn M, không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại bản kết luận giám định số 998/KL – KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1682 gam (Không phẩy một nghìn sáu trăm tám mươi hai gam). Methamphetamine STT: 247, Danh mục IIC, Phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

Bản Cáo trạng số 111/CT- VKSHH ngày 05/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo M thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản Cáo trạng.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 50 BLHS; xử phạt bị cáo M từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/6/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 998/KL - KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T hoàn trả mẫu vật giám định thu giữ của bị cáo M. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận gì và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số 19, 20); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (bút lục số 21); Bản kết luận giám định số 998/KL – KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T (bút lục số 25); Lời khai của những người làm chứng anh Nguyễn Văn Y và anh Đào Văn T (bút lục từ số 61 đến số F). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ ngày 26/6/2023, tại đoạn đường Q thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình, Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn M có hành vi cất giấu tại túi áo ngực phía trước, bên trái M đang mặc, 01 gói ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,1682 gam mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ...

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d). ...

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực điều khiển hành vi của mình, nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, làm suy kiệt kinh tế gia đình, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán...trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS, bị cáo có nhân thân tốt. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo nói riêng và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Bị cáo tàng trữ ma túy, mục đích là để sử dụng cho bản thân, bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc ma túy bị cáo M khai: vào trưa ngày 26/6/2023, M được 01 người bạn cùng công ty Trách nhiệm hữu hạn P (M mới biết người này từ 01 tuần trước, do M mới vào làm ở công ty 01 tuần, M mới gặp và nói chuyện với người này 01 lần, không nhớ đặc điểm nhận dạng, tên, tuổi, địa chỉ; có gặp lại cũng không thể nhận ra anh ta) rủ đi mua ma túy về sử dụng chung. M đồng ý và đi cùng người đàn ông trên đến khu vực T, huyện Đ. Người đàn ông nói M đứng đợi rồi đi đâu đó khoảng 05 phút quay lại đưa cho M gói ma túy. M cất gói ma túy vào túi áo ngực bên trái đang mặc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành điều tra, xác minh; ngoài lời khai của M không có tài liệu nào khác, không xác định được con người cụ thể cùng M đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

[6] Về xử lý vật chứng: 0,1320 gam (Không phẩy một nghìn ba trăm hai mươi gam) ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 998/KL -KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh T thu của bị cáo M là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Bị cáo M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử ph¹t bị cáo M 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/6/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu để tiêu huỷ 0,1320 gam (Không phẩy một nghìn ba trăm hai mươi gam) ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 998/KL -KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh T (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo M phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: bị cáo M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

* Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS Hưng Hà;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 110/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Mạnh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger