|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày: 21 - 11 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thanh Nhàn
2. Ông Nguyễn Văn Giang
Thư ký phiên tòa: bà Vũ Tú Uyên, thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2024/TLST-HSST ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024; đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Đắc T, tên gọi khác: không, sinh ngày 19 tháng 4 năm 1986, tại Đ, Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố B, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: khu C, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đắc T1 và bà Nguyễn Thị G; vợ: Vi Thị H; con: 03 con, con lớn sinh năm 2011, con bé sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/8/2024, tạm giữ đến ngày 13/8/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt.
2/ Họ và tên: Vũ Văn M, tên gọi khác: không, sinh ngày 05 tháng 7 năm 1980, tại H, Nam Định. Nơi đăng ký thường trú: xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: khu F, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn K và bà Phạm Thị H1; vợ: Hoàng Thị T2, con: 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, bé nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/8/2024, tạm giữ đến ngày 13/8/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt.
3/ Họ và tên: Đỗ Mạnh C, tên gọi khác: không, sinh ngày 12 tháng 05 năm 1990, tại A, Hải Phòng. Nơi thường trú: xóm H T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở: khu B, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn V và bà Các Thị H2; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/8/2024, tạm giữ đến ngày 13/8/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt.
4/ Họ và tên: Ninh Văn C1, tên gọi khác: không, sinh ngày 30 tháng 4 năm 1994, tại K, Ninh Bình. Nơi thường trú: thôn T, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: khu A, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ninh Văn B và bà Nguyễn Thị H3; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/8/2024, tạm giữ đến ngày 13/8/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt.
5/ Họ và tên: Trần Thế H4, tên gọi khác: không, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1986, tại H, Thái Bình. Nơi đăng ký thường trú: thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức H5 và bà Bùi Thị X; vợ: Vũ Hồng T3, con: 02 con, lớn sinh năm 2017, bé sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/8/2024, tạm giữ đến ngày 13/8/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1986; nơi cư trú: khu F, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Vắng mặt.
- Người chứng kiến: anh Nguyễn Văn T4, ông Lưu Xuân T5. Đều vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 04/08/2024, tại nhà của bà Hoàng Thị H6 (là mẹ vợ của T), số nhà A đường N thuộc khu C, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đắc T gọi điện thoại rủ Đỗ Mạnh C, Trần Thế H4 và Vũ Văn M đến để đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng”, C, H4 và M đồng ý. Sau đó, M gọi điện thoại rủ thêm Ninh Văn C1 đến chơi cùng. Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, khi M, C, C1 và H4 đến, T bảo mọi người vào phòng ngủ tầng 1, rồi T lấy 01 bộ tú lơ khơ bỏ đi các lá bài 10, J, Q, K và dùng 01 chiếc chiếu nhựa trải xuống nền nhà cho cả nhóm làm chỗ ngồi để đánh bạc. Lúc này, do H4 không có tiền, nên ngồi xem một lúc rồi đi về.
Hình thức chơi được quy định như sau: 04 người chơi, mỗi người được chia 03 lá bài, trước mỗi ván chơi mỗi người bỏ ra 100.000 đồng để vào giữa chiếu bạc gọi là tiền “gà”. Sau khi chia bài, người chơi được tố thêm tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng hoặc bỏ bài. Các liên kết trong bộ bài như sau: bài có 03 lá bài cùng số gọi là “Sáp”, người chơi có 03 lá bài theo thứ tự 6,7,8 gọi là “Liêng”. Nếu không có “Sáp” hoặc “Liêng” thì cộng 03 lá bài lại với nhau (9 điểm là lớn nhất, 0 điểm là nhỏ nhất). Khi so bài thì “Sáp” to hơn “Liêng” và “Liêng” to hơn điểm. Khi có bài bằng điểm nhau thì so chất, lần lượt cao nhất là rô, cơ, bích, tép; người chơi nào không bỏ bài trong khi những người chơi khác đều bỏ bài hoặc người chơi nào có bài cao nhất thì thắng toàn bộ số tiền “gà” và tiền tố.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Thế H4 đến chơi cùng với T, C, C1 và Mỹ.
Cả nhóm chơi đến khoảng 15 giờ 15 phút ngày 04/8/2024, thì bị Công an phường K, thành phố M kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc gồm: 11.300.000 đồng. Thu giữ trên người của Ninh Văn C1 7.000.000 đồng; Đỗ Mạnh C 12.000.000 đồng; Trần Thế H4 70.000 đồng; Vũ Văn M 18.480.000 đồng. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 13 Pro Max, màu vàng, gắn sim số 0979.953.166; C 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max, màu xanh, gắn sim số 0945.690.268; Hanh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, gắn sim số 0963.313.558 và Mỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu đen, gắn sim số 0344.353.618; 01 bộ tú lơ khơ gồm 36 lá bài và 01 chiếc chiếu nhựa, kích thước (200x160)cm.
Trong đó số tiền thu trên người các bị cáo, các bị cáo khai tiền sẽ dùng vào việc đánh bạc, riêng đối với số tiền thu giữ trên người bị cáo M 18.480.000 đồng trong đó có 16.480.000 đồng là M cầm của vợ không dùng vào việc đánh bạc. Như vậy tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là: 32.370.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 2156/CT-VKSMC ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố các bị cáo Nguyễn Đắc T, Vũ Văn M, Đỗ Mạnh C, Ninh Văn C1 và Trần Thế H4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo đều có lời khai phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.
Những người chứng kiến ông Nguyễn Văn T4 và ông Lưu Xuân T5 vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại Cơ quan điều tra xác nhận về thời gian, địa điểm và số tiền các bị cáo bị thu giữ phù hợp với lời khai của các bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị T2 vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan Điều tra thể hiện: ngày 04/8/2024 chị có đưa cho chồng chị số tiền 18.480.000 là tiền chung của hai vợ chồng để đi trả nợ nhưng Mỹ chưa trả nợ mà sử dụng lấy 2.000.000 đồng trong số tiền trên sử dụng để đánh bạc. Chị đề nghị được trả lại số tiền 16.480.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đắc T từ 24 tháng đến 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Vũ Văn M từ 21 tháng đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng đến 48 tháng. Các bị cáo Ninh Văn C1, Đỗ Mạnh C, Trần Thế H4 với mức hình phạt từ 18 tháng đến 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng đến 42 tháng
Giao các bị cáo Nguyễn Đắc T cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Vũ Văn M cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Đỗ Mạnh C cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, Ninh Văn C1 cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Trần Thế H4 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh theo dõi quản lý các bị cáo trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng thu giữ: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 32.370.000 đồng và 04 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo; tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc chiếu nhựa, 01 bộ tú lơ khơ gồm 36 lá bài và 04 chiếc sim điện thoại gắn trong điện thoại thu giữ của các bị cáo; trả lại cho bị cáo Vũ Văn M số tiền 16.480.000 đồng;
Các bị cáo không tranh luận gì với nội dung bản luận tội và thừa nhận việc truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và trình bày lời nói sau cùng: xin giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt quả tang, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử kết luận: khoảng 15 giờ 15 phút ngày 04/08/2024, tại số nhà A đường N thuộc khu C, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, các bị cáo Nguyễn Đắc T, Vũ Văn M, Đỗ Mạnh C, Ninh Văn C1 và Trần Thế H4 đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, dưới hình thức đánh “Liêng” và bị Công an phường K, thành phố M bắt quả tang, với tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 32.370.000₫ (Ba mươi hai triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng).
[4] Hành vi đánh bạc trái phép của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội. Các bị cáo là người trưởng thành có đủ năng lực trách nhiệm và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi đến cùng. Hành vi của các bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành của tội: “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền các bị cáo đánh bạc không lớn. Tuy nhiên vẫn phải xử lý hình sự đối với hành vi phạm tội của các bị cáo và phải áp dụng mức hình phạt tù tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Xét tính chất đồng phạm, vai trò của các bị cáo thấy: bị cáo T là người khởi xướng việc đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm chính, bị cáo M là người rủ bị cáo C1 nên có vai trò sau bị cáo T, các bị cáo còn lại chịu lại chịu trách nhiệm ngang nhau đối với hành vi đánh bạc của các bị cáo.
[6] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
[6.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T có hoàn cảnh khó khăn có con bị câm điếc bẩm sinh, vợ sau khi sinh con thưa 3 bị trầm cảm, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
[6.2] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
7 Sau khi xem xét, đánh giá tính chất vụ án, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên áp dụng hình phạt tù, cho hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo sự răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm và qua đó cũng thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước đối với người phạm tội.
[8] Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, không phạt tiền đối với các bị cáo.
[9] Về vật chứng: đối với số tiền thu dưới chiếu bạc là 11.300.000 đồng và số tiền thu giữ trên người các bị cáo là 21.070.000 đồng các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 16.480.000 đồng thu giữ của bị cáo M, quá trình điều tra thể hiện số tiền này là tiền của vợ bị cáo đưa cho bị cáo đi trả nợ, không dùng vào việc đánh bạc nên trả lại cho bị cáo. Đối với 04 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo, các bị cáo dùng để liên lạc vào việc đánh bạc nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với chiếc điện thoại của bị cáo M quá trình điều tra không thu giữ được vật chứng nên không xét. 01 bộ tú lơ khơ gồm 36 lá bài, 01 chiếc chiếu nhựa là công cụ phạm tội và các thẻ sim gắn trong 04 chiếc điện thoại thu giữ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
10 Đối với bà Hoàng Thị H6 là chủ sở hữu ngôi nhà nơi các bị cáo đánh bạc, không biết các bị cáo đánh bạc tại nhà mình, nên không xét.
11 Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
9 Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc T: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội: “ Đánh bạc".
Giao bị cáo T cho Ủy Ban nhân dân phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn M: 21 (Hai mươi mốt) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 (Bốn mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội: “ Đánh bạc”.
Giao bị cáo M cho Ủy Ban nhân dân phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh C: 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội: “ Đánh bạc".
Giao bị cáo C cho Ủy Ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Xử phạt bị cáo Ninh Văn C1: 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội: “ Đánh bạc".
Giao bị cáo C1 cho Ủy Ban nhân dân xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Xử phạt bị cáo Trần Thế H4: 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội: “ Đánh bạc".
Giao bị cáo H4 cho Ủy Ban nhân dân phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi Hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
- Về các biện pháp tư pháp: áp dụng Điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 87; 88; 89; 90; 91/LCCT-TA ngày 01/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái và các quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 123; 124; 125; 126; 127/QĐ-TA ngày 01/10/2024 đối với các bị cáo
- Về xử lý vật chứng: áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự .
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 32.370.000 đ (Ba mươi hai triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng). Trả lại cho bị cáo Vũ Văn M số tiền 16.480.000₫ (Mười sáu triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).
Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc chiếu nhựa, 01 bộ tú lơ khơ gồm 36 lá bài và 04 thẻ sim điện thoại gắn trong các điện thoại thu giữ.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 04 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu lần lượt Iphone 13 Promax; Iphone 12 promax; OPPO và V1.
(Tình trạng các vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 11/2025/THA ngày 30/10/2024 giữa Công an thành phố M với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).
- Về án phí: áp dụng: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Nga |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về đánh bạc (gambling)
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Gambling)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đắc Thắng cùng đồng phạm - Đánh bạc
