Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày 16-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Văn Luân
  2. Bà Phạm Thị Huệ

- Thư ký phiên toà: ông Trần Trung Đức - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Thị Kim C, sinh năm 2000; nơi sinh: xã H, huyện H; nơi cư trú: thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Đ và bà Trần Thị Phương N; có chồng Lâm Văn H và 01 con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/6/2024 đến nay (có mặt).

Bị hại: ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1951 (đã chết)

Trú tại: thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Những người đại diện hợp pháp cho bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1946 (là chị gái ông U).

Địa chỉ: thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959 (là chị gái ông U).

3. Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm1960 (là em trai ông U).

Đều ở địa chỉ: Tổ D, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái.

Người đại diện theo ủy quyền của bà K, bà L và ông T: anh Trần Văn T1, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Địa chỉ: thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

2

Những người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Trú tại: thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  1. Chị Ngô Thị Á, sinh năm 1972 (vắng mặt).
  2. Chị Trịnh Thị H1, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Đều trú tại: thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, Hoàng Thị Kim C không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô, biển số đăng ký 17B4-654.83 đi trên đường ĐH59 theo hướng từ Ủy ban nhân dân xã T đi xã H, huyện H. Khi đến địa phận thôn L, xã T, huyện H, đây là đoạn đường rộng 6,9 mét, được trải bê tông nhựa, tương đối bằng phẳng, đoạn đường cong, quanh co, có đặt biển cảnh báo nhiều chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp (W.202b), biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên (W.207a), cùng lúc này ông Nguyễn Văn U trú tại thôn L, xã T, huyện H đang đi bộ từ lề đường bên trái sang lề đường bên phải theo chiều đi của xe mô tô. C không chú ý quan sát (theo C khai mải nhìn điện thoại để tại hộc để đồ phía trước bên trái của xe) người và phương tiện đi phía trước, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có người đi bộ sang đường, nên phần đầu bên trái xe mô tô va chạm với ông Nguyễn Văn U làm ông U ngã, đập đầu xuống đường. Hậu quả: ông U bị vỡ xương sọ vùng đỉnh chẩm phải, chảy máu não, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2, huyện H chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T, do thương tích nặng nên được gia đình đưa về nhà, đến khoảng 01 giờ 45 phút ngày 24/5/2024, ông U chết tại gia đình; xe mô tô, biển số đăng ký 17B4-654.83 bị hư hỏng nhẹ.

Bản kết luận giám định tử thi số 704/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của ông Nguyễn Văn U và bản ảnh: “Trên tử thi có các vết sây sát da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt, tay và chân. Vỡ xương sọ vùng đỉnh chẩm phải, chảy máu não. Nguyên nhân chết: nạn nhân Nguyễn Văn U chết do chấn thương sọ não. Cơ chế hình thành vết thương: do va đập, chà xát với vật tày cứng gây nên.”

Bản Cáo trạng số 114/CT- VKSHH ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyệnHưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự (viết tắt BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản Cáo trạng.

3

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xử bị cáo C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 38 và Điều 65 BLHS; xử phạt bị cáo C từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo C cùng gia đình đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Đại diện gia đình ông U đã nhận đủ số tiên trên, không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường khoản gì khác.

Bị cáo C không tranh luận gì, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm (bút lục số 12); Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh (bút lục từ số 64 đến số G); Biên bản khám nghiệm tử thi hoặc một phần tử thi (bút lục số 39, 40); Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông và bản ảnh (bút lục từ số 73 đến số 83); Bản kết luận giám định số 832/KL-KTHS ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T (bút lục từ số 166 đến số 173); Bản kết luận giám định tử thi số 704/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T (bút lục từ số 47 đến số 60); Lời khai của những người làm chứng anh Nguyễn Văn Đ1, chị Ngô Thị Á và chị Trịnh Thị H1 (bút lục từ số 236 đến số B); Lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Nguyễn Ngọc T (bút lục từ số 198 đến số B). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, tại đoạn đường ĐH59 thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện H, Hoàng Thị Kim C, sinh năm 2000, không có giấy

4

phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong đoạn đường cong, quanh co, có người đi bộ sang đường và có đặt biển cảnh báo nhiều chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp (W.202b), biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên (W.207a), đã gây tai nạn giao thông, va chạm với ông Nguyễn Văn U là người đi bộ sang đường, hậu quả làm ông Nguyễn Văn U chết. Hành vi trên của bị cáo C đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1, khoản 3 và khoản 6 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ xe máy chuyên dùng khi tham gia giao thông đường bộ, làm chết 01 người. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cụ thể:

Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ

1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ...

Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo...

Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

  1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;...
  2. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận;...
  3. Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường;

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

5

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo điều khiển xe mô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ được quy định trong Luật giao thông đường bộ, xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng, hậu quả đã gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường các khoản thiệt hại, chi phí mai tang phí ...cho gia đình bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội cũng do một phần lỗi của bị hại sang đường không chú ý quan sát. Từ các nhận xét trên, HĐXX xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách nhất định, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: trong quá trình điều tra, bị cáo C đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thêm gì khác về trách nhiệm dân sự.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA VISION, màu đen-đỏ, biển số đăng ký 17B4-654.83, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của bị cáo Hoàng Thị Kim C. Ngày 14/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bị cáo C là phù hợp.

Đối với hành vi vừa điều khiển xe mô tô tham gia giao thông vừa sử dụng điện thoại di động, không đội mũ bảo hiểm của bị cáo C vào ngày 23/5/2024, tại đường ĐH59, thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện H, Công an huyện H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo là phù hợp.

Bị cáo C phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ nhận xét trên,

QUYẾT ĐỊNH

6

  1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị Kim C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo C 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo C cho UBND xã Đ, huyện H nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 591 và 597 Bộ luật Dân sự: chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo C bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác (bị cáo đã bồi thường xong).
  4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí, bị cáo C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: bị cáo C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình:
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - UBND xã Điệp Nông;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Nhàn

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Thị Kim C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger