Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐĂK HÀ

TỈNH KON TUM

Bản án số: 34/2024/HS-ST.

Ngày: 04/7/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở pháp lý kết luận:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 28/12/2023, bị cáo Đỗ Quang B đã rủ bị cáo Trần Hiền L đi trộm cắp tài sản thì được bị cáo L đồng ý. Bị cáo Trần Hiền L chở bị cáo Đỗ Quang B đi đến khu vực ngã tư sau Trung tâm thương mại huyện Đ thuộc Tổ dân phố C, thị trấn Đ thì bị cáo B bảo bị cáo L đi về. Bị cáo Đỗ Quang B tiếp tục đi đến cửa hàng P2 thuộc Tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum và lén lút đột nhập vào bên trong cửa hàng P2 để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: số tiền mặt 38.050.000 đồng và 08 chiếc điện thoại di động có trị giá là 235.920.000 đồng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 273.970.000 đồng; đối với 08 điện thoại di động do bị phát hiện nên bị cáo Đỗ Quang B đã bỏ lại trên trần nhà; tuy nhiên, việc bị cáo lấy 08 điện thoại di động ra khỏi khu vực bảo quản, nơi cất giữ tài sản ban đầu là đã hoàn thành việc chiếm đoạt tài sản nên không thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

Xét thấy, đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn nhưng có tính chất rất nghiêm trọng. Trong đó, bị cáo Đỗ Quang B với vai trò là người khởi xướng, rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Trần Hiền L tuy không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng khi nghe bị cáo B rủ đi tìm tài sản trộm cắp thì đã đồng ý và chở B đi tìm tài sản trộm cắp, hành vi của bị cáo Trần Hiền L có vai trò giúp sức về mặt vật chất và tinh thần, tạo điều kiện cho bị cáo Đỗ Quang B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, bị cáo Trần Hiền L phải chịu trách nhiệm chung với bị cáo Đỗ Quang B về tổng giá trị tài sản trộm cắp trong vụ án. Như vậy, hành vi nói trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng số 24/CT-VKSĐH ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố các bị cáo Đỗ Quang B và Trần Hiền L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bản thân các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì ý thức coi thường pháp luật và muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, cần phải xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo để xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của từng bị cáo đồng thời cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về nhân thân: Trước khi phạm tội các bị cáo đều có nhân thân xấu đặc biệt là bị cáo Đỗ Quang B đã nhiều lần bị kết án.
  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Đỗ Quang B, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HSST, ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đến ngày 02/9/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Như vậy, tính đến ngày phạm tội mới 19/12/2023 bị cáo chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Trần Hiền L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại phiên tòa các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền còn lại cho bị hại và đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo khi quyết định hình phạt. Ngoài ra đối với bị cáo Trần Hiền L đã đến Cơ quan Công an tự thú và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được bị cáo phạm tội nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về quyết định hình phạt: Đối với bị cáo Trần Hiền L có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và tham gia với vai trò giúp sức thứ yếu nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực học tập, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội. Đối với bị cáo Đỗ Quang B hiện vợ chồng đã ly hôn và bị cáo là người nhận nuôi con nhỏ nên cũng cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 82B1-740.23 là của anh Phạm Như P1; việc bị cáo B mượn xe để đi chơi sau đó sử dụng vào việc đi trộm cắp tài sản anh P1 hoàn toàn không biết nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trả lại cho anh Phạm Như P1 xe mô tô nói trên.

Đối với 01 (một) tuốc nơ vít có cán màu xanh, phần kim loại của tuốc nơ vít được quấn băng keo màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) kìm bằng kim loại, trên bề mặt có dòng chữ “CHINA”, đã qua sử dụng; 01 (một) đèn pin, được quấn băng keo màu đen, đã qua sử dụng; (một) đoạn dây dù màu xanh, đã qua sử dụng; (một) móc bằng kim loại, có một đầu nhọn, đầu còn lại gắng móc hình tròn bằng kim loại, đã qua sử dụng và 01 (một) túi vải, có quai đeo, có họa tiết rằn ri, trên bề mặt túi có dòng chữ “U.S.ARMY” đã qua sử dụng là các công cụ bị cáo Đỗ Quang B đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và có giá trị không đáng kể nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền còn lại. Trong đó gia đình bị cáo L bồi thường 1.000.000 đồng và gia đình bị cáo B bồi thường 5.350.000 đồng nên đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[9] Về những tình tiết khác:

Đối với anh Nguyễn Tiến M: Quá trình điều tra, anh M không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được.

Đối với anh Phạm Như P1: Sau khi Đỗ Quang B trộm cắp tài sản và đem về nhà anh P1, lúc này anh P1 đã đi làm không biết Bộ trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét, xử lý trách nhiệm gì đối với anh P1 là phù hợp.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Quang B và Trần Hiền L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

  • Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Quang B 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2023.

  • Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Trần Hiền L 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

  • Trả lại cho anh Phạm Như P1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 82B1-740.23, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đèn pin được quấn băng keo màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) túi vải có quai đeo, có họa tiết rằn ri, trên bề mặt túi có dòng chữ “U.S.ARMY” đã qua sử dụng; 01 (một) tuốc nơ vít có cán màu xanh, phần kim loại của tuốc nơ vít được quấn băng keo màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) kìm bằng kim loại, trên bề mặt có dòng chữ “CHINA” đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn dây dù màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) móc bằng kim loại, có một đầu nhọn, đầu còn lại gắn móc hình tròn bằng kim loại, đã qua sử dụng.

(Các vật chứng, đồ vật nêu trên có đặc điểm theo như các biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Kon Tum và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường Vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Đỗ Quang B và Trần Hiền L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (04/7/2024) các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh KonTum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Đăk Hà;
  • - Cơ quan CSĐTCA H.Đăk Hà;
  • - Trại TGCA tỉnh Kon Tum;
  • - Chi cục THADS huyện Đăk Hà;
  • - Bị cáo và các đương sự;
  • - Sơ Tư pháp tỉnh Kon Tum;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Quang Bộ cùng Trần Hiền Lương trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger