Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:137/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Đức Danh

2. Ông Nguyễn Đắc Hưng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc S - Sinh ngày 25/5/1978, tại xã P, thị xã Đ, Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N - sinh năm 1956; con bà: Nguyễn Thị Kim H - sinh năm 1958; Vợ: Trần Thị Bích T - sinh năm 1989; có 02 con; lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/6/2024 đến nay. (có mặt)

- Bị hại:

+ Anh Trịnh Xuân K - sinh năm 1981, Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

+ Người đại diện hợp pháp của bị hại (anh Trần Văn H1 – Sinh năm 1981 - đã chết): Anh Trần Văn B – Sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần Đ3; Địa chỉ: 1 B, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Võ Văn Đ – Sinh năm 1970, nơi cư trú: Tổ A, phường T, quận C, thành phố Đà Nẵng (có mặt)

- Người làm chứng:

+ Anh Đặng Minh Đ1 – sinh năm 1978, nơi cư trú: Khu phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (vắng mặt)

+ Anh Nguyễn Văn H2 – sinh năm 1985, Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1978, trú tại khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (có giấy phép lái xe hạng E, FC), là lái xe hợp đồng của Công ty Cổ phần Đ3, có địa chỉ tại 1 B, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng 20 giờ 57 phút ngày 05/4/2024, Nguyễn Ngọc S điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 51D-622.37, kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 51R-235.26 của Công ty, trên cabin xe còn có anh Đặng Minh Đ1, sinh năm 1978, trú tại khu phố G, H, thị xã H, tỉnh Bình Định đi nhờ xe từ Lạng Sơn về đang nằm ngủ trên giường. Sự bật đèn chiếu sáng phía trước, lưu thông trên đường Q, hướng Bắc - Nam trên làn đường xe cơ giới bên trong, tiếp giáp dải phân cách cứng. Khi xe ô tô do S điều khiển đi đến Km 379+200m thuộc địa phận thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, đây là đoạn đường thảm nhựa bằng phẳng, có dải phân cách cứng chia làm hai phần đường lưu thông theo hai chiều riêng biệt, có điểm mở dải phân cách rộng 29,7m, có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên (về phía bên phải theo chiều đi của xe ô tô), có gờ giảm tốc, biển chỉ dẫn quay đầu xe, có vạch kẻ đường và biển báo giành cho người đi bộ sang ngang. Thời điểm này trời mưa phùn, đường ướt, hạn chế tầm nhìn, S đã không chú ý quan sát, giảm tốc độ xe để có thể dừng lại một cách an toàn, nhường đường cho người đi bộ qua đường nên xe ô tô đầu kéo do S điều khiển đã đâm va vào anh Trần Văn H1, sinh năm 1981, trú tại P - Hh2c, Hồ Linh Đ2, phường H, quận H, thành phố Hà Nội và anh Trịnh Xuân K, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đang đi bộ qua đường trên phần đường dành cho người đi bộ sang ngang từ phải sang trái theo hướng đi của S. Hậu quả, anh H1 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu đến 00 giờ 55 phút ngày 06/4/2024 thì tử vong; anh K bị thương phải điều trị tại Bệnh viện (BL 168-177; 197-207).

Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 1670/KLGĐTT-PC09, ngày 24/4/2024 phòng K1 Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của anh Trần Văn H1 là do “Chấn thương sọ não” (BL 42, 43).

Tại Bản Kết luận giám định phương tiện số 1790/KL-KTHS, ngày 06/5/2024, phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

“1. Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe ôtô đầu kéo BKS 51D - 622.37 kéo theo rơ-moóc BKS 51R - 235.26 với nạn nhân Trần Văn H1 và anh Trịnh Xuân K.

Dấu vết tại mặt trước góc bên trái trán xe cách thành xe bên trái 20cm, mặt trước góc bên trái ba-đờ-xốc trước cách thành xe bên trái 32cm (ảnh 4 đến 11) phù hợp do va chạm với chất liệu vải sợi tạo nên.

2. Không đủ cơ sở xác định chiều hướng chuyển động, vị trí xảy ra va chạm trên đường giữa xe ôtô đầu kéo BKS 51D - 622.37 kéo theo rơ-moóc BKS 51R - 235.26 với nạn nhân Trần Văn H1 và anh Trịnh Xuân K.

3. Không đủ cơ sở xác định vận tốc của phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn.” (BL 72, 73).

Tại Bản Kết luận giám định số 1621/KL-KTHS, ngày 23/4/2024, phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

“- Mẫu máu của Nguyễn Ngọc S niêm phong gửi giám định không có cồn.

- Mẫu máu của Trịnh Xuân K niêm phong gửi giám định có nồng độ cồn là 134,66mg/100ml máu.

- Mẫu máu của Trần Văn H1 niêm phong gửi giám định có nồng độ cồn là 135,18mg/100ml máu.” (BL 92, 93).

Tại các Bản Kết luận giám định số 1557/KL-KTHS ngày 16/4/2024 và số 2772/KL-KTHS ngày 26/4/2024, phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: “Không tìm thấy chất ma tuý trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Ngọc S và trong mẫu máu ghi thu của Trịnh Xuân KTrần Văn H1 gửi giám định.” (BL 101, 107).

Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đoạn Video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông được trích xuất từ Camera an ninh của Công an xã T, thị xã N được lưu trữ trong 01 USB màu trắng bạc, nhãn hiệu Kingston và 02 hình ảnh được chụp từ Camera an ninh giám sát buồng lái xe ô tô đầu kéo BKS: 51D.622.37 trước và sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ nêu trên, được lưu trữ trong 01 USB màu trắng bạc, nhãn hiệu Kingston.

Tại Bản Kết luận giám định số 2763/KL-KTHS ngày 12/6/2024, V - Bộ C kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong file video có tên “video.mp4” thời lượng 36 giây gửi giám định. Đã trích xuất hình ảnh chi tiết thể hiện trong Phụ lục gồm 02 trang giấy khổ A4 kèm theo. Không xác định được 02 file ảnh gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không nên không tiến hành giám định các nội dung khác.” (BL 123).

Tại Bản cáo trạng số 145/CT-VKSNS ngày 11/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS; điểm a khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt Nguyễn Ngọc S từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung và không xem xét phần bồi thường thiệt hại; trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng E, FC mang tên Nguyễn Ngọc S, do sở giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 10/6/2024 và buộc bị cáo phải chịu tiền án phí HSST.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Tại phiên tòa, Nguyễn Ngọc S đã khai nhận: Khoảng 20 giờ 57 phút ngày 05/4/2024, Nguyễn Ngọc S điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 51D-622.37, kéo theo rơ móoc BKS 51R-235.26 tham gia giao thông trên Quốc lộ A theo hướng Bắc - N. Khi đi đến khoảng mở dải phân cách, nơi có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, có gờ giảm tốc, biển chỉ dẫn quay đầu xe, có vạch kẻ đường và biển báo giành cho người đi bộ sang ngang, thời điểm này trời mưa phùn, đường ướt, hạn chế tầm nhìn, nhưng S đã không chú ý quan sát, giảm tốc độ xe để có thể dừng lại một cách an toàn nên đã đâm va vào anh Trần Văn H1 và anh Trịnh Xuân K đang đi bộ qua đường trên phần đường dành cho người đi bộ sang ngang gây tai nạn giao thông làm anh H1 bị thương và bị chết trong khi cấp cứu do chấn thương sọ não; anh K bị thương.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai người làm chứng, phù hợp với kết luận của đại diện VKS. Hành vi của Nguyễn Ngọc S vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 11, khoản 2 Điều 12 Luật giao thông đường bộ được cụ thể hoá tại khoản 1, khoản 2, khoản 6 Điều 5

Thông tư 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về các trường hợp phải giảm tốc độ. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.

Về phần anh Trịnh Xuân K ra viện, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Trung tâm P giám định mức độ tổn thương cơ thể do tai nạn giao thông gây ra nhưng anh K đã từ chối đi giám định. Cơ quan điều tra ra Quyết định dẫn giải anh K đi giám định nhưng anh K không chấp hành nên không xác định được mức độ tổn thương cơ thể của anh K.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn thị xã N, tình trạng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây thiệt hại về tính mạng người khác, làm cho nhân dân trên địa bàn hoang mang lo sợ. Vì vậy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự: Tiền án, tiền sự: không. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được người đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ, lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[5] Xét về phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Xét về bồi thường dân sự: Bị cáo và chủ phương tiện đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Trịnh Xuân K 50.000.000 đông và gia đình bị hại Trần Văn H1 với tổng số tiền 370.000.000 đồng, anh K và đại diện gia đình anh H1 không yêu cầu gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử miễn xét.

[7] Xét về phần vật chứng:

- Đối 01 xe ô tô đầu kéo BKS 51D-622.37, kéo theo sơ mi rơ móoc BKS 51R-235.26 đã qua sử dụng; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo BKS 51D-622.37; 01 chứng nhận đăng ký sơ mi rơ móoc BKS 51R-235.26; 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện GTCGĐB xe ô tô đầu kéo BKS 51D-622.37; 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện GTCGĐB sơ mi rơ móoc BKS 51R-235.26 và 01 bảo hiểm bắt buộc TNDS xe ô tô đầu kéo BKS 51D-622.37, Sau khi khám nghiệm phương tiện, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô đầu kéo kéo theo sơ mi rơ móoc trên kèm theo các giấy tờ xe cho đại diện Công ty Cổ phần Đ3. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng E, FC mang tên Nguyễn Ngọc S, do sở giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 10/6/2024 (hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án), vì không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS để trả lại cho bị cáo là hoàn toàn chính xác..

[8] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Nguyễn Ngọc S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Xử phạt: Nguyễn Ngọc S 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 25/9/2024. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc S cho chính quyền Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo mà thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc S 01giấy phép lái xe hạng E, FC mang tên Nguyễn Ngọc S, do sở giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 10/6/2024.

- Án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vắng mặt bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQĐT Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - CQTHAHS Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Bắc

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Đức Danh

Nguyễn Đắc Hưng

Nguyễn Văn Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 137/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc S điều khiển xe ô tô không làm chủ tốc độ đã gây tai nạn làm anh H bị chết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger