Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 43/2024 /HNGĐ-ST

Ngày: 06 - 6 - 2024

V/v tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông: Lê Văn Tánh.
  • 2/ Ông: Nguyễn Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc - Cán bộ TAND thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 174/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự.

1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 24/9/1991; (có mặt)

HKTT: Số 10, khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Địa chỉ hiện nay: Số 03, khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

2/ Bị đơn: Anh Tô Ngọc T, sinh ngày 28/01/1980; (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 10, khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/7/2023 và lời khai thể hiện có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Do quen biết trước chị H và anh Tô Ngọc T tự về sống chung với nhau vào cuối năm 2021 có đăng ký kết hôn tại UBND phường 5, thị xã Cai Lậy, theo giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 24/8/2022. Sau khi cưới về chung sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, sống với nhau không hạp tánh tình từ đó dẫn đến vợ chồng cãi vã nhau thường xuyên, anh T không lo làm ăn để lo cho vợ con; vợ chồng ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay.

Nay chị H yêu cầu xin được ly hôn với anh T vì cho rằng về tình cảm vợ chồng không còn nên đoàn tụ lại sống chung không hạnh phúc.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Tô Thị C, sinh ngày 05/7/2022; hiện chị H đang nuôi dưỡng cháu C. Nếu ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị H không có, nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Tô Ngọc T dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi cho Tòa án.

Về phía đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo pháp luật tố tụng quy định nên không có đề nghị gì.

Về ý kiến của phía đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Tô Ngọc T.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Tô Thị C, sinh ngày 05/7/2022 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do phía chị H chưa có yêu cầu; anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Theo chị H khai không có, nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía bị đơn anh T thì vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có ý kiến gởi cho Tòa án, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp: Xác định đây là tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung.
  2. Về thủ tục tố tụng: Việc vắng mặt bị đơn anh Tô Ngọc T. Xét thấy, bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt phía bị đơn anh T.
  3. Về yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H: yêu cầu xin được ly hôn với anh Tô Ngọc T. Xét thấy, tại phiên tòa hôm nay, chị H vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn với anh T, vì cho rằng tình cảm vợ chồng không còn nên đoàn tụ lại sống không hạnh phúc. Phía anh T thì vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có ý kiến gửi cho Tòa án. Xét thấy, trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, đã triệu tập phía anh T nhiều lần đến để hòa giải về việc chị H xin ly hôn với anh T. Nếu như về tình cảm vợ chồng, anh T muốn vợ chồng đoàn tụ lại thì anh T phải đến Tòa án để gặp chị H, để hòa giải về tình cảm vợ chồng xem có khả năng đoàn tụ hàn gắn lại được hay không nhưng phía anh T không đến, thể hiện anh T không còn quan tâm đến tình cảm vợ chồng đối với chị H. Ngoài ra, theo chị H khai giữa chị H và anh T đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng với nhau từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay đã gần 02 năm. Cho thấy, về tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H và cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Tô Ngọc T.
  4. Về con chung: Có 01 con chung tên Tô Thị C, sinh ngày 05/7/2022; hiện cháu C đang sống chung với chị H từ khi vợ chồng ly thân nhau cho đến nay. Nếu ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu C hiện do chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng từ khi vợ chồng ly thân với nhau cho đến nay đã ổn định về mọi mặt; hơn nữa cháu C dưới 03 tuổi và là nữ nên giao cho chị H nuôi dưỡng là đảm bảo tốt về mọi mặt cho sự phát triển của cháu C sau này; nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ giao cháu Tô Thị C cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do phía chị H chưa có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết. Nếu sau này chị H có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì chị H được quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu.
  5. Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị H khai không có, nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía bị đơn anh T thì vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có ý kiến gửi cho Tòa án, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết. Nếu sau này phía anh T cho rằng vợ chồng có tài sản chung và nợ chung nhưng không thỏa thuận được với nhau và có tranh chấp thì được quyền làm đơn khởi kiện bằng một vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu.
  6. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  7. Xét ý kiến và đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Tô Ngọc T.
  2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Tô Thị C, sinh ngày 05/7/2022 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do phía chị H chưa có yêu cầu; anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
  3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai thu số 0018721 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy; nên chị H đã nộp xong án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Tô Ngọc T thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi Nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thị xã Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy;
  • - UBND phường 5.TX Cai Lậy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phan Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024 /HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 43/2024 /HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Ngân xin ly hôn anh Tú
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger