Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc


Bản án số: 32/2024/DS-ST

Ngày: 17 - 5 - 2024

V/V tranh chấp hợp đồng góp hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Trần Văn Tám.
  2. Bà: Đặng Thị Tiềm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc - Cán bộ TAND thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 315/2023/TLST- DS ngày 18 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST- DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự.

1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B (tên thường gọi 3 Trí), sinh ngày 01/01/1953; (có mặt)

Địa chỉ: Ấp D, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

2/ Bị đơn: Bà Mai Thị Đ (tên thường gọi Tâm), sinh ngày 19/8/1969; (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 4, ấp D, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 07/8/2023, tại lời khai trong các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà Nguyễn Thị B có tham gia chơi hụi do phía bà Mai Thị Đ làm chủ thảo hụi, gồm các dây hụi cụ thể như sau:

  • - Dây hụi thứ nhất: Dây hụi 2.000.000 đồng, một tháng khui một lần, khui lần đầu vào ngày 05/9/2019 (Al), gồm có 22 phần, bà B tham gia 01 phần; bà B đã đóng được 21 kỳ hụi sống, đến kỳ thứ 22 thì bà B hốt hụi, số tiền hụi mà bà B hốt được là: (số tiền đóng hụi sống quy ra hụi chết là: 21 kỳ x 2.000.000 đồng x 01 phần thành tiền là 42.000.000 đồng), nhưng trừ tiền huê hồng cho chủ hụi là 400.000 đồng nên bà Đ còn nợ lại bà B số tiền hụi là 41.600.000 đồng; bà Đ có trả được số tiền là 10.600.000 đồng, còn nợi lại số tiền hụi là 31.000.000 đồng.
  • - Dây hụi thứ hai: Dây hụi 1.000.000 đồng, một tháng khui một lần, khui lần đầu vào ngày 10/11/2019 (Al), gồm có 19 phần, bà B tham gia 01 phần; bà B đã đóng được 18 kỳ hụi sống, đến kỳ thứ 19 thì bà B hốt hụi, số tiền hụi mà bà B hốt được là: (số tiền đóng hụi sống quy ra hụi chết là: 18kỳ x 1.000.000 đồng x 01 phần thành tiền là 18.000.000 đồng), nhưng trừ tiền huê hồng cho chủ hụi là 200.000 đồng nên bà Đ còn nợ lại bà B số tiền hụi là 17.800.000 đồng.

Sau đó đến ngày 02/6/2022 (Al) bà B và bà Đ chốt lại 02 dây hụi trên thì bà Đ còn nợ bà B số tiền 02 dây hụi là 49.000.000 đồng và cùng ngày bà Đ có trả cho bà B số tiền 2.000.000 đồng nên còn nợ lại là 47.000.000 đồng. Ngày 09/10/2022 (Al) bà Đ có trả được số tiền là 1.000.000 đồng, nên bà Đ con nợ lại số tiền là 46.000.000 đồng, nhưng trước đây chưa trừ tiền huê hồng 200.000 đồng; nay bà B đồng ý trừ tiền huê hồng cho bà Đ là 200.000 đồng, nên bà Đ còn nợ lại 02 dây hụi số tiền là 45.800.000 đồng.

  • - Dây hụi thứ ba: Dây hụi 1.000.000 đồng, một tháng khui một lần, khui lần đầu vào ngày 20/3/2020 (Al), gồm có 20 phần, bà B tham gia 01 phần; bà B đã đóng được 14 kỳ hụi sống, đến kỳ thứ 15 thì bà Đ ngưng không khui hụi, số tiền hụi mà bà B đóng được là: (số tiền đóng hụi sống quy ra hụi chết là: 14 kỳ x 1.000.000 đồng x 01 phần thành tiền là 14.000.000 đồng), nhưng trừ tiền huê hồng cho chủ hụi là 200.000 đồng, nên bà Đ còn nợ lại bà B số tiền hụi là 13.800.000 đồng.
  • - Dây hụi thứ tư: Dây hụi 1.000.000 đồng, một tháng khui một lần, khui lần đầu vào ngày 15/4/2020 (Al), gồm có 17 phần, bà B tham gia 01 phần; bà B đã đóng được 13 kỳ hụi sống, đến kỳ thứ 14 thì bà B là người hốt hụi, số tiền hụi mà bà B hốt được là: (số tiền đóng hụi sống quy ra hụi chết là: 13 kỳ x 1.000.000 đồng x 01 phần thành tiền là 13.000.000 đồng, nhưng trừ tiền huê hồng cho chủ hụi là 200.000 đồng, nên bà Đ còn nợ lại bà B số tiền hụi là 12.800.000 đồng.
  • - Dây hụi thứ năm: Dây hụi 1.000.000 đồng, một tháng khui một lần, khui lần đầu vào ngày 30/7/2020 (Al), gồm có 14 phần, bà B tham gia 01 phần; bà B đã đóng được 10 kỳ hụi sống, đến kỳ thứ 11 thì bà Đ ngưng không khui hụi tiếp, số tiền hụi mà bà B đóng được là: (số tiền đóng hụi sống quy ra hụi chết là: 10kỳ x 1.000.000 đồng x 01 phần thành tiền là 10.000.000 đồng, nhưng trừ tiền huê hồng cho chủ hụi là 200.000 đồng, nên bà Đ còn nợ lại bà B số tiền hụi là 9.800.000 đồng.

Tổng cộng 05 dây hụi phía bà Đ còn nợ lại bà B số tiền là 82.200.000 đồng. Phía bà B có đòi nhiều lần nhưng bà Đ hẹn trả nhưng đến nay vẫn chưa trả. Nay phía nguyên đơn bà B yêu cầu bà Mai Thị Đ phải có nghĩa vụ trả cho bà B số tiền của 05 dây hụi còn nợ là 82.200.000 đồng.

* Tại lời khai trong các biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn bà Mai Thị Đ trình bày: Bà Đ thừa nhận có làm chủ thỏa hụi, bà B là hụi viên có tham gia chơi 05 dây hụi, trước đây 5 dây hụi còn nợ lại bà B số tiền là 82.200.000 đồng như lời trình của bà B là đúng, nhưng sau đó bà Đ có trả tiền hụi cho bà B nhiều lần hiện chỉ còn nợ lại bà B số tiền hụi là 49.000.000 đồng, nên bà Đ có viết vào giấy hụi là tổng cộng 2 phần hụi số tiền là 49.000.000 đồng và bà Đ có trả được số tiền là 3.000.000 đồng, hiện chỉ còn nợ bà B số tiền là 46.000.000 đồng chưa trả. Theo bà Đ do trước đây bà Đ ghi không đúng lẽ ra bà Đ phải ghi là tổng cộng 5 dây hụi sau khi trả tiền hụi nhiều lần hiện chỉ còn nợ lại số tiền là 49.000.000 đồng mới đúng.

Nay bà Đ không đồng ý trả cho bà B số tiền hụi của 5 dây hụi là 82.200.000 đồng mà chỉ đồng ý trả cho bà B số tiền hụi là 46.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp: Xác định đây là tranh chấp hợp đồng góp hụi.
  2. Về yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B: yêu cầu bà Mai Thị Đ phải có nghĩa vụ trả cho bà B số tiền của 05 dây hụi còn nợ là 82.200.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận. Bởi lẽ, tại phiên tòa hôm nay phía nguyên đơn bà B xác định bà Đ có làm chủ thảo hụi và bà B có tham gia chơi 05 dây hụi, hiện bà Đ còn nợ lại của bà B số tiền của 05 dây hụi là 82.200.000 đồng chưa trả và bà B cũng có cung cấp tài liệu, chứng cứ 06 giấy hụi (bản chính) của 05 dây hụi do phía bị đơn bà Đ ghi trong đó thể hiện rõ số lần đóng hụi, số tiền hốt hụi. Phía bị đơn bà Đ tại phiên tòa hôm nay cũng thừa nhận 06 giây hụi của 05 dây hụi mà phía nguyên đơn bà B cung cấp là do phía bị đơn bà Đ ghi trong đó thể hiện rõ số lần đóng hụi, số tiền hốt hụi của 5 dây hụi mà trước dây bà Đ còn nợ lại bà B số tiền là 82.200.000 đồng, nhưng sau đó bà Đ có trả tiền hụi cho bà B nhiều lần hiện chỉ còn nợ lại bà B số tiền hụi là 49.000.000 đồng, nên bà Đ có viết vào giấy hụi là tổng cộng 2 phần hụi số tiền là 49.000.000 đồng và bà Đ có trả được số tiền là 3.000.000 đồng, hiện chỉ còn nợ bà B số tiền là 46.000.000 đồng chưa trả. Theo bà Đ do trước đây bà Đ ghi không đúng lẽ ra bà Đ phải ghi là tổng cộng 5 dây hụi sau khi trả tiền hụi nhiều lần hiện chỉ còn nợ lại số tiền là 49.000.000 đồng mới đúng, nhưng phía bà Đ không có cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh là có trả tiền hụi cho bà B nhiều lần hiện chỉ còn nợ lại số tiền là 46.000.000 đồng; cho thấy lời trình bày của phía bị đơn bà Đ là không có căn cứ để chấp nhận.
  3. Từ những tài liệu, chứng cứ như phân tích trên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị B và buộc phía bị đơn bà Mai Thị Đ phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền nợ hụi của 05 dây hụi là 82.200.000 đồng đồng.
  4. Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ba, nên phía bị đơn bà Đ phải có nghĩa vụ chịu án phí trên số tiền phải trả cho phía bà B là 82.200.000 đồng theo quy định tại khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nên bà Đ phải có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.110.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 274, 280, 357, 468, 471 Bộ luật dân sự; các Điều 17, 19, 21, 22, 24, 26, 27, 28, 29 và 31 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

  1. Về dân sự: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B. Buộc bà Mai Thị Đ phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền nợ hụi của 05 dây hụi là 82.200.000 đồng.

    Kể từ ngày nguyên đơn bà B có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn bà Đ chậm thực hiện nghĩa vụ thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trên số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm thi hành án.

  2. Về án phí:

    Buộc bà Mai Thị Đ phải có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.110.000 đồng.

    Do nguyên đơn bà Nguyễn Thị B được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, nên không phải xem xét hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho phía bà Nguyễn Thị B.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thị xã Cai Lậy;
  • - CCTHADS thị xã Cai Lậy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

(Đã ký)

Phan Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 32/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger